Hiển thị các bài đăng có nhãn Di tích lịch sử. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Di tích lịch sử. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 11 tháng 1, 2013

Nhà cổ Huỳnh Thủy Lê

Nằm bên bờ sông Tiền, thuộc thị xã Sa Đéc, nhà cổ Huỳnh Thủy Lê là điểm đến thu hút đông đảo du khách mỗi khi ghé thăm tỉnh Đồng Tháp.

< Du khách nước ngoài đến tham quan nhà cổ Huỳnh Thủy Lê.

Nét đặc biệt của ngôi nhà cổ này là sự giao thoa kiến trúc Việt - Pháp - Hoa cùng câu chuyện tình lãng mạn giữa nữ văn hào Pháp Marguerite Duras với công tử họ Huỳnh.
Khi chúng tôi đến đây, đoàn du khách Úc hơn 40 người đang chăm chú ngồi nghe cô hướng dẫn viên của Công ty Cổ phần Du lịch Đồng Tháp giới thiệu về ngôi nhà và chuyện tình giữa nữ văn hào Pháp Marguerite Duras và ông Huỳnh Thủy Lê. Cái không khí sầm uất ở khu phố Sa Đéc dọc bờ sông Tiền trong buổi chiều muộn càng làm cho du khách cảm nhận được cảnh trên bến dưới thuyền nhộn nhịp ngày nào.

< Hoa văn, họa tiết, phù điêu trên cột và vòm hiên của ngôi nhà rất độc đáo và hài hòa.

Ngôi nhà cổ này được xây dựng năm 1895 bằng vật liệu chính là gỗ. Mái nhà lợp ngói âm dương, hai bên đầu cong vút hình chiếc thuyền, tượng trưng cho miền sông nước Tây Nam Bộ. Năm 1917, ông Huỳnh Cẩm Thuận (cha ông Huỳnh Thủy Lê) cho trùng tu lại ngôi nhà mang dáng dấp một biệt thự Pháp, kết hợp hài hòa giữa hai lối kiến trúc Đông - Tây. Từ đó đến nay, mặc dù đã hơn 100 năm nhưng ngôi nhà vẫn còn nguyên vẹn.

< Một số vật dụng lưu giữ trong ngôi nhà cổ Huỳnh Thủy Lê.

Ngôi nhà là một công trình kiến trúc khác lạ. Phía ngoài ấn tượng với lối kiến trúc Pháp qua các chi tiết mặt tiền, trần nhà, khung cửa sổ. Những bức tượng, phù điêu đắp nổi được trang trí theo kiểu Phục hưng. Vòm cửa cong vòng theo lối kiến trúc La Mã, cửa sổ với khối kính nhiều màu kiểu Gothic đón ánh sáng. Nhìn từ ngoài vào ngôi nhà, du khách thấy sự uy nghiêm, bề thế, cho thấy gia chủ là người rất giàu có và uy quyền.

Nhưng, vào trong ngôi nhà, du khách lại có cảm giác yên bình và thân thuộc. Lối kiến trúc phương Đông thể hiện sự mềm mại qua những đường nét chạm khắc tinh xảo, cầu kỳ hình chim muông, cây trái, tùng, cúc, trúc, mai... trên gỗ quý.

Điều đặc biệt là các họa tiết đó lại khắc họa cảnh sông nước Nam bộ sầm uất, cây trái xanh tươi, tượng trưng cho vùng đất trù phú. Ngôi nhà được chia thành 3 gian, gian giữa thờ Quan Công theo văn hóa tín ngưỡng truyền thống của người Hoa.


< Bên trong ngôi nhà, lối kiến trúc phương Đông thể hiện qua những đường nét chạm khắc tinh xảo, cầu kỳ.

Hai gian hai bên là nơi tiếp khách cùng hai phòng ngủ, một hành lang rộng dẫn xuống nhà dưới. Nền nhà cao ráo, lát gạch hoa, tường xây bằng gạch đặc dày 30cm - 40cm, bao lấy kết cấu khung gỗ, làm tăng khả năng chịu lực. Tất cả vật liệu này đều được mang từ Pháp về để xây dựng.

Ngôi nhà này là nơi đây bắt đầu cho một câu chuyện tình giữa gia chủ và nữ văn hào Pháp Marguerite Duras. Cuối năm 1929, trên chuyến phà Mỹ Thuận chạy ngang sông Tiền, ông Huỳnh Thủy Lê thấy một giai nhân nổi bật có nước da trắng, tóc nâu vàng, dáng người cao ráo, đứng lơ đễnh trên phà nhìn những đám lục bình trôi tản mạn trên sông.

< Du khách nước ngoài nghe kể về lịch sử ngôi nhà.

Ông đã chủ động đến làm quen với cô gái bằng tiếng Pháp và cả hai đều trúng“tiếng sét ái tình”. Tình yêu ấy kéo dài gần hai năm trong bí mật và kết thúc trong nước mắt khi ông Huỳnh Thủy Lê phải cưới một cô gái đã được cha ông an bài từ trước. Nhìn tình nhân cưới người khác, Marguerite Duras đau khổ tột độ, quyết định cùng gia đình lên tàu trở về nước Pháp.

Hơn nửa thế kỷ trôi qua, Marguerite Duras vẫn ôm nặng mối tình ấy. Trong dòng hồi tưởng, nữ văn sĩ đã viết nên tiểu thuyết “Người tình” (tên tiếng Pháp là L’amant, xuất bản năm 1984) để kể về cuộc tình trắc trở của bà. Đến nay, tiểu thuyết “Người tình” được dịch ra hơn 40 thứ tiếng. Năm 1992, đạo diễn người Pháp Jean Jacques Annaud cho ra đời bộ phim cùng tên dựa theo tiểu thuyết của bà. Bộ phim công chiếu đã nhận được nhiều sự tán thưởng của khán giả khắp nơi trên thế giới.

< Hướng dẫn viên kể về câu chuyện tình đẹp và lãng mạn giữa nữ văn hào Pháp Marguerite Duras và ông Huỳnh Thủy Lê.

Tiểu thuyết “Người tình” và bộ phim cùng tên ngày càng nổi tiếng thì nhà cổ Huỳnh Thủy Lê lại càng được du khách năm châu quan tâm, tìm hiểu. Rất nhiều đoàn khách nước ngoài từ Pháp, Mỹ, Úc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Anh… đã đến đây và rất thích thú. Năm 2009, nhà cổ Huỳnh Thủy Lê đã được Bộ Văn hóa, Thể thao & Du lịch công nhận là Di tích Lịch sử Văn hóa Quốc gia.

Du lịch, GO! - Theo Nguyễn Oanh - Lê Minh (Vnanet.vn)

Bí ẩn thành cổ Bản Phủ ở Cao Bằng

Xã Hưng Đạo (Hòa An - Cao Bằng) là vùng đất khá bằng phẳng, có những cánh đồng rộng mênh mông, ven con sông Bằng Giang thấm đẫm những dấu tích lịch sử của tiền nhân. Nơi đây đang lưu truyền một truyền thuyết nói về vùng đất cổ, đầy bí ẩn của một thời về An Dương Vương.
Từng có truyền thuyết được người dân kể lại rằng, ở vùng đất này xưa kia là nơi Thục Chế, bố của An Dương Vương xây dựng thành Bản Phủ ở Cao Bình. Truyền thuyết là niềm tự hào của biết bao thế hệ người dân nơi đây. Tuy nhiên, truyền thuyết được truyền lại cho rằng An Dương Vương đã "lập địa" ở Bản Phủ là sự thật. Còn những hiện vật để minh chứng cho vùng đất cổ mà người cha của An Dương Vương đã chọn để xây thành thì nay vẫn là điều vô cùng bí ẩn.

Truyền thuyết "Cẩu chủa cheng vùa"

Được biết, vùng đất Cao Bình xưa (Cao Bằng nay) nằm dọc theo hai bên bờ của dòng Bằng Giang, nơi trung tâm của bồn địa Hòa An, theo truyền thuyết vốn là kinh đô của nước Nam Cương thời Thục Phán, còn thế kỷ XVII là kinh thành của vương triều Nhà Mạc tồn tại ngót 80 năm.

Rất nhiều người dân xã Hưng Đạo (Hòa An - Cao Bằng) kể cho nhau một truyền thuyết xưa kia về vùng đất mà mình đang sống chính là nơi Thục Chế, cha đẻ của An Dương Vương đã từng sinh sống, đắp đất xây thành lũy để phòng thủ, bảo vệ dân làng trước giặc ngoại xâm.

Để tìm hiểu rõ thực hư truyền thuyết, chúng tôi đã có chuyến công tác rong ruổi hàng tuần tại vùng đất lưu nhiều dấu ấn lịch sử này. Gặp nhiều người cao tuổi họ chỉ biết nơi đây có một truyền thuyết về "Cẩu chủa cheng vùa" (Chín chúa tranh vua) nhưng cũng không rõ ngọn ngành của truyền thuyết ra sao.

Được chị Ngô Thị Cẩm Châu, Phó giám đốc Bảo tàng tỉnh Cao Bằng giới thiệu, chúng tôi tìm gặp ông Nguyễn Đức Hạnh- nguyên Phó Hiệu trưởng Trường Đảng tỉnh Cao Bằng, nay là Trường Chính trị tỉnh, là người thường xuyên cùng các cụ cao niên trong xã tổ chức các đợt khảo cổ tại địa phương.

Ông kể rằng, năm 1963, một tư liệu mới về An Dương Vương Thục Phán được công bố. Ðó là truyền thuyết "Cẩu chủa cheng vùa" (chín chúa tranh vua) của đồng bào Tày ở Cao Bằng. Theo truyền thuyết này thì Thục Phán là con của Thục Chế "vua" của "nước" Nam Cương ở vùng Cao Bằng, hiện nay, mà trung tâm là Hòa An (Cao Bằng).

Nam Cương gồm chín xứ Mường. Vào cuối đời Hùng Vương, Thục Chế mất, thọ 95 tuổi, con là Thục Phán hãy còn ít tuổi (10 tuổi). Chín chúa Mường kéo quân về bắt Thục Phán chia nhỏ đất ra cho các chúa cai quản và đòi nhường ngôi "vua". Thục Phán tuy ít tuổi nhưng rất thông minh, đã bày ra những cuộc đua sức, đua tài và giao hẹn ai thắng cuộc sẽ được nhường ngôi.

Thục Phán dùng mưu kế làm cho các chúa mất nhiều công sức, mà không ai thắng cuộc. Như tổ chức các cuộc thi bắn cung trúng lá đa khi lá rụng, dùng một cái lưỡi cày để làm ra 1.000 chiếc kim, Thục Phán còn dùng cả "mỹ nhân kế", cho 10 thiếu nữ xinh đẹp đi theo các người thi… Đến giờ Hợi nhưng tất cả các chúa vẫn chưa ai làm xong. Cuối cùng, các chúa không ai thắng được đã phải qui phục Thục Phán. Sau đó, "nước" Nam Cương trở nên cường thịnh.

Cuối những năm 60 lại xuất hiện thêm hai giả thuyết mới về nguồn gốc của Thục Phán. Tất cả những giả thuyết trên đây cho thấy nguồn gốc của Thục Phán và sự ra đời của nước Âu Lạc còn ẩn chứa nhiều bí ẩn. Nhưng xu hướng chung của các nhà nghiên cứu trong thời gian gần đây đều cho rằng quê hương của Thục Phán là ở vùng miền núi phía Bắc nước ta.

Vùng đất cổ?

Đang trò truyện với chúng tôi, ông Hạnh lục trong tủ mang ra một cuốn sách cổ có ghi lại rất nhiều trang sử của vùng. Ông cho biết, cư dân nước Văn Lang đời Hùng Vương chủ yếu là người Lạc Việt và bao gồm cả một bộ phận người Tây Âu (hay còn gọi là Âu Việt) ở miền núi rừng và trung du phía Bắc, hai thành phần đó sống xen kẽ với nhau trong nhiều vùng. Phía Bắc nước Văn Lang là địa bàn cư trú của người Tây Âu, cũng có những nhóm Lạc Việt sống xen kẽ.

Lạc Việt và Tây Âu là hai nhóm phía Nam của Bách Việt, sống gần gũi nhau và cư trú đan xen nhau trên lưu vực sông Hồng và Tây Giang. Vừa là đồng chủng, vừa là láng giềng, từ lâu người Lạc Việt và người Tây Âu đã có nhiều quan hệ mật thiết về kinh tế, văn hóa.

Ông Hạnh kể thêm, giữa người Lạc Việt và Tây Âu, cũng như giữa Hùng và Thục, đã có nhiều quan hệ gắn bó lâu đời. Huyền thoại Lạc Long Quân - Âu Cơ đã chứa đựng mối quan hệ giữa hai yếu tố Lạc và Âu trong cội nguồn xa xưa của các thành phần dân tộc ở Việt Nam. Nhiều thần tích và truyền thuyết về Hùng Vương và An Dương Vương coi Thục Phán là thuộc "dòng dõi", "tông phái", hoặc là "cháu ngoại" của vua Hùng.

Còn nói về lịch sử của vùng đất này thì ông Hạnh cho hay, tỉnh Cao Bằng đã được thành lập cách đây hơn 500 năm thì đã có 178 năm trung tâm kinh tế, chính trị, xã hội nằm ở Cao Bình, Hòa An ngày nay. Còn ở xóm Đà Quận, xã Hưng Đạo, huyện Hòa An có khả năng nơi này trước đây có một ông quan to dựng nhà cửa, sinh sống ở đây.

Nơi đây ở giữa cánh đồng Thiên Thanh có một vùng đất cao hẳn lên so với mặt ruộng, nơi này trước đây có chùa Viên Minh (nay là chùa Đà Quận). Chùa hiện còn lưu giữ chiếc chuông đồng cổ và đền thờ quan triều Dương Tự Minh. Dương Tự Minh là người Tày ở Thái Nguyên nhưng hai lần có công thắng quân Tống, cai quản cả phủ Phú Lương ngày xưa gồm: Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Tuyên Quang và một phần của Lạng Sơn và Vĩnh Phú…

Theo chị Ngô Thị Cẩm Châu, Phó Giám đốc Bảo tàng tỉnh Cao Bằng thì ở Cao Bằng qua khai quật khảo cổ, và một số phát hiện của địa phương trong quá trình xây dựng và sản xuất đã thu được một số hiện vật có giá trị về mặt lịch sử như: Đồ đá, đồ đồng, gốm, và đặc biệt mới đây nhất, trong quá trình dùng máy xúc đất người dân đã phát hiện một thanh đao cổ dài hơn 1m nhưng chưa rõ có từ thời nào? Thanh đao đó hiện đang được lưu giữ tại bảo tàng tỉnh.

Chị Châu cho biết thêm: "Trước đó tại Ngườm Vài, Cần Yên (Thông Nông - năm 2008) đã phát hiện di chỉ thời đại đồ đá cũ và công cụ chặt thô bằng đá rất nhiều, khoảng vài trăm hiện vật. Những phát hiện đó quả thực là thật đáng mừng".

Tuy nhiên, đến thời điểm này khi nói đến vùng đất mà An Dương Vương đã từng sinh sống thì theo các nhà khảo cổ học thì vẫn chưa phát hiện được một dấu tích nào của An Dương Vương ở vùng đất xã Hưng Đạo (Hòa An - Cao Bằng). Tất cả chỉ có trong truyền thuyết.

Khai quật

< Các hiện vật bằng sứ, gốm com men được phát hiện qua khai quật.

Trước những truyền thuyết chỉ là một phần để minh chứng cho vùng đất Cao Bằng vốn cho là cổ này. Một đoàn nghiên cứu của Viện Khảo cổ  học, Viện Khoa học xã hội Việt Nam do PGS.TS Trình Năng Chung làm trưởng đoàn đã tiến hành khai quật khảo cổ tại một số điểm di tích xung quanh thành bản phủ Cao Bình tại xã Hưng Đạo, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng.

Trong vòng một tuần, đoàn khảo cổ đã tiến hành khai quật tại 3 điểm, gồm Bản Phủ, Đà Quận và Bó Mạ. Tại Bản Phủ, ngay cạnh chợ Cao Bình, hố khai quật được xẻ ngang di tích của tường thành cũ, có lũy tre dày đặc và phía bên ngoài là hào sâu bao bọc, đây là bức thành được đắp bằng đất, vừa có giá trị phòng thủ quân sự, vừa có tác dụng ngăn lũ sông Bằng Giang, bảo vệ cho khu vực Bản Phủ.

Theo PGS.TS Trình Năng Chung thì mặt cắt của thành Bản Phủ là tường đất được đắp cao, ngay bên dưới là đường hào, người xưa đã lấy đất từ hào để đắp lên thành. Đoàn khảo cổ đào tương đối triệt để qua mặt cắt, trước hết để tìm xem kết cấu đất đắp thành. Hai là tìm trong thành có các di vật từ trong lớp đất nó nói lên điều gì. Và nghiên cứu tìm hiểu về tính chất cũng như niên đại của thành này.

Qua mặt cắt đoàn khảo cổ khai quật cho thấy về cơ bản thì có 7 lớp cơ bản, và hai lớp phụ ở phần trên là lớp mùn sau này, các lớp đất được phân biệt nhau bởi các màu sắc khác nhau. Qua nghiên cứu về các di vật, trong khi đào đoàn khảo cổ phát hiện được hàng trăm di vật, bao gồm đồ đá, đồ sành, gốm com men và sứ. Và ngoài ra cũng tìm được một số mẩu kim lại bằng sắt và đồng đã rỉ. Sự khác nhau giữa các di vật trong các tầng lớp hầu như không có, gần như là có sự tương tự giống nhau lớn. Điều đó nói lên cái thành này được đắp trong cùng một thời gian. Mặc dù các lớp đất có màu sắc khác nhau, nó phản ánh lớp đất nguyên thổ đầu tiên khi cư dân ở đây đắp đất lên.

Khi chúng tôi hỏi về niên đại của thành, thì PGS.TS Trình Năng Chung cho biết: "Chúng tôi đã nghiên cứu và xác định niên đại những di vật nằm trong địa tầng, phần lớn các hiện vật thu được cho thấy thành này được xây dựng từ thời Lê - Mạc. Đó là điều rất lý thú, qua mặt cắt của lớp địa tầng này, và qua các diễn biến của di vật các tầng lớp đất tìm thấy trong thành. Thì đây là thành hàm chứa rất nhiều giá trị văn hóa vùng này, đây cũng là câu trả lời cho những ai yêu thích và yêu mến lịch sử quê hương đất nước mình thì câu trả lời đó tôi nghĩ rằng trong tương lại gần thôi.

Sau đó đoàn khảo cổ đã tiến hành khảo cổ ở xóm Đà Quận, xã Hưng Đạo, bên cạnh là di tích lịch sử chùa Đà Quận, nơi đây con lưu giữ hai chiếc chuông đồng thời cổ rất lớn. Đoàn khai quật mới chỉ đào một hố nhỏ sâu khoảng 20cm trong vườn nhà dân, dài chừng 3m nhưng đã phát hiện nhiều hiện vật nằm dày đặc, chủ yếu là các loại vật liệu xây dựng, kiến trúc như gạch, ngói bằng đất nung, chứng tỏ đây là chứng tích của một công trình cổ có từ thời Lê.

< Chuông cổ tại khu vực thành Bản Phủ.

Là trưởng đoàn khảo cổ, PGS.TS Trình Năng Chung nhận định: "Qua kết quả khảo sát ban đầu, chúng tôi thấy đây là một di tích kiến trúc rất quan trọng, nó phản ánh một giai đoạn lịch sử của vùng đất Cao Bằng.  Gặp PGS.TS tại Viện Khảo cổ, ông đưa ra một số hình ảnh thu được trong chuyến khảo cổ đó. Chỉ vào hiện vật bằng đất nung, có hình dáng giống như đầu rồng PGS cho biết: "Những mảnh trang trí này thường người ta gắn vào kiến trúc mà giới thượng lưu trong quý tộc, trong xã hội mới được sử dụng. Đó là mảng trang trí mà hình tượng là con rồng, có mắt, tay, nhưng không còn nguyên vẹn, bị vỡ. Do vậy nhìn vào những trang trí của hiện vật thì ta biết rằng đây là những hiện vật có từ thời Lê".

Những chứng tích lịch sử

Có mặt tại thôn Đà Quận để tìm hiểu về những chứng tích lịch sử của vùng đất cổ này. Nhìn vào vị trí của khu kiến trúc cổ đã được khai quật, PGS.TS Trình Năng Chung cho hay: "Chủ của khu này chiếm vị trí rất lớn trong xã hội đương thời. Với biểu trượng là con rồng thì ta biết rằng chủ nhân của khu di tích này cũng có thể là người đứng ở vị trí quan lại lớn trong triều hoặc là người đứng đầu ở khu vực này".

Cũng trong đợt khảo cổ để tìm dấu tích của một thời đại Kim Khí An Dương Vương đã từng xây thành, lập chốt ở Cao Bằng, đoàn khảo cổ đã tiến hành khảo sát bãi đá sỏi lộ thiên tại làng Bó Mạ, xã Hưng Đạo, qua khảo sát các nhà khảo cổ phát hiện, ở bến sông ăn ngầm sâu vào trong bờ có công cụ bằng đá thô sơ, chứng tỏ thời tiền sử đã từng sinh sống ở đây. Đó là những công cụ bằng đá mà người nguyên thủy ghè một đầu  để làm chỗ cầm, dìu đá. Làm tay cầm để thao tác, tác động vào chặt cây hay con thú. Con người đã sớm sinh sống ở khu vực này mà nơi cư trú chính là những gò đất cao dọc theo bờ sông Bằng Giang. Theo PGS Trình Năng Chung đây là phát hiện có tầm quan trọng về mặt khoa học lịch sử và khảo cổ không chỉ riêng cho Cao Bằng.

Trong vòng một tuần, đoàn khảo cổ do PGS.TS Trình Năng Chung làm trưởng đoàn, với tinh thần làm việc khẩn trương, nghiêm túc đoàn đã phát hiện được nhiều hiện vật, di chỉ khảo cổ có giá trị về nhiều mặt. Qua kết quả của cuộc khảo sát khảo cổ học đã thu lại một số tiền thức như sau: Đây là lần thứ hai Cao Bằng phát hiện được di tích đá cũ mà cũng là lần đầu tiên trên thềm sông cổ, sông Bằng Giang là tìm thấy dấu tích con người thời nguyên thủy, đó là cái nhận thức rất mới, và cái nhận thức tiếp theo là cái di tích thành Bản Phủ, qua đào khảo sát càng thấy rõ hơn giá trị lịch sử, văn hóa, và vị thế của thành Bản Phủ trong lịch sử của vùng đất Cao Bằng nói riêng và Việt Nam nói chung. Và cái nhận thức nữa là trên vùng đất Hưng Đạo, thấm đẫm dấu tích của lịch sử tiền nhân, cụ thể là ở trong đợt này phát hiện được một loạt dấu tích kiến trúc, trong đó có dấu tích kiến trúc ở Đà Quận và khu đồng Thiên Thanh, ở xóm Bản Phủ.

Qua dấu tích kiến trúc ta biết được về lịch sử văn hóa của người thời cổ có giá trị rất lớn về mặt văn hóa cũng như về mặt lich sử, cũng nói lên vị thế của vùng đất Hòa An trong lịch sử Cao Bằng. Cái nổi trội hơn cả là qua đợt khảo cổ nghiên cứu cho thấy vùng đất Cao Bằng là vùng đất cổ có bề dầy về văn hoá lịch sử rất lâu đời. Ít ra đã có từ hàng vạn năm về trước. Nhưng liệu nơi đây có phải là nơi An Dương Vương sinh sống, nuôi quân đánh giặc hay không thì đến nay vẫn chưa có dấu tích nào để khẳng định điều này.

Đi tìm dấu ấn vùng đất cổ

PGS.TS Trình Năng Chung cho biết: "Qua khảo sát, quan sát địa tầng và các hiện vật thu được chúng tôi cố gắng liên hệ giữa thành Bản Phủ với thời đại kim khí lớn, thời đại của An Dương Vương, cho đến bây giờ kết quả phân tích các mẫu vật lấy được trong thành và phân tích mẫu đất để có câu trả lời về mặt niên đại. Chúng tôi cũng rất mong muốn sẽ có sự hòa hợp giữa truyền thuyết và chứng tích khảo cổ học. Nhưng hầu hết các hiện vật trong chuyến khảo cổ cuối năm 2010 thu được chủ yếu là các hiện vật có từ thời Lê - Mạc. Và một số hiện vật có từ thời tiền sử, đồ đá cũ".

Dựa vào rất nhiều chuyến khảo cổ của mình, PGS.TS Trình Năng Chung tập hợp lại và suy luận rằng. Trên Lào Cai cũng là một vùng đất cổ, ở đó đã phát hiện có văn hóa đồ đồng, nhiều di vật đồng dọc sông Hồng, có làng mạc ven sông Hồng. Còn ở Cao Bằng là mục tiêu hàng chục năm nay ông đi tìm di chỉ đồ đồng, tuy nhiên đồ đồng cực kỳ hiếm, hiện nay ở Bảo tàng tỉnh Cao Bằng chỉ lưu giữ được 4 chiếc rìu đồng.

Khi chúng tôi hỏi về truyền thuyết thành Bản Phủ, PGS.TS Trình Năng Chung cho hay, thành Bản Phủ được truyền thuyết khoác vào đó là Thục Chế - bố của An Dương Vương xây dựng. Tuy nhiên, vào năm 2007 ông lên Cao Bằng khảo sát thì nhận thấy thành đó có hình vuông, theo báo cáo của các cụ trong xã Hưng Đạo thì thành Bản Phủ cũng là hình vuông.

Về tư duy lô gíc thì đây là thành vuông, thành sau này, thành cổ xưa thì cả cái xóm nằm trên vùng đất bằng, nếu như thành Cổ Loa ngày xưa xây theo chân đồi, chỗ cong thì xây cong, thẳng thì xây thẳng, về mặt lô gíc nếu thành Bản Phủ có từ thời An Dương Vương thì không thể có hình vuông vức được. "Thành ngày xưa được xây để ngăn quân thù, ngày xưa xây quanh theo quả đồi, sau hình học ra đời thì người ta mới xây theo hình vuông" - PGS Chung cho hay.

PGS TS Trình Năng Chung cũng khẳng định rằng: "Thế mạnh của dân khảo cổ học là khai quật, di tích, di vật. Đó là sử liệu, bằng vật chứng cụ thể dưới lòng đất, muốn chứng minh thành Bản Phủ là của An Dương Vương Thục Phán thì phải khai quật như khai quật thành Cổ Loa ở Đông Anh vậy. nhưng làm như thế rất tốn kém về thời gian, vật lực và nhân lực. Về nguyên tắc xây thành bao giờ cũng đào bên trong hất đất ra, chỗ đất được đào sẽ thành một hào rồi đóng chông ngăn quân thù tại hào đó.


< Một trong hai chiếc chuông cổ tại chùa Đà Quận.

Tại Bản Phủ có phát hiện xung quanh thành có hào, hiện vẫn có từng đoạn, một số chỗ là những cái mương rất to, về nguyên tắc thì lớp đất cuối cùng sẽ được đổ lên trên, thì những hiện vật đó được đổ lên trên, đào sâu xuống lớp đất đó thì đây là lớp đất nguyên thổ, nếu thành được xây từ thế kỷ bao nhiêu thì lớp đất nó nói lên tất cả, nào là ngói, gốm sứ, bát đĩa vỡ đều ở thế kỷ XVI và XVII như vậy kết luận thành mà chúng tôi khai quật vào cuối năm 2010 được xây vào vào thời Lê".

Bí ẩn?

Cũng nhằm tìm ra những di tích, di chỉ để minh chứng vùng đất Hưng Đạo (Hòa An) là vùng đất cổ, Hội di sản xã Hưng Đạo do các cụ cao niên trong xóm xã lập ra để nghiên cứu nhưng không tìm thấy dấu vết của An Dương Vương.

Ngoài ra PGS.TS Trình Năng Chung đã đưa ra một so sánh để minh chứng vùng đất Hòa An không phải có từ thời An Dương Vương. Nếu như ở Cổ Loa ta thấy rất nhiều dấu tích, câu ca, vè, ký ức nhưng ở Hòa An (Cao Bằng) không để lại một tý gì về An Dương Vương, trong huyện Hòa An không có một đền thờ An Dương Vương nào, nhưng ở Cổ Loa và vùng lân cận thì rất nhiều, kể cả hiện vật cũng phát hiện rất nhiều. Về khảo cổ học, nếu như ở Cổ Loa người ta phát hiện rất nhiều di chỉ khảo cổ của cư dân thời đại An Dương Vương thời xưa, rất nhiều nhà đào giếng có, xây dựng có phát hiện đồ gốm chứ ở Cao Bằng không có.

Nếu như tìm thấy một thứ gì đó ở Hòa An thì đó là một phát hiện rất lớn, tuy ở Cao Bằng có phát hiện một số hiện vật bằng gốm nhưng gốm thời An Dương Vương nó khô cứng, không có men, độ cứng kém, đó là những bài toán chưa có lời giải ở Cao Bằng. Liệu khu vực thành Bản Phủ có phải là trung tâm không?

Thực tế qua các chuyến khảo cổ PGS.TS Trình Năng Chung cho biết: "Lào Cai có giáo, mác, có làng cư trú ven sông Hồng, ở Cao Bằng bà con đi đào vàng phát hiện 4 cái dìu đồng, giai đoạn đồ đồng của An Dương Vương rất mờ nhạt ở Cao Bằng, bản thân tôi muốn làm sáng tỏ cái đầu tiên, sơ khai của những cư dân thời dựng nước đầu tiên ở Cao Bằng thì không có hiện vật để chứng minh".


< PGS.TS Trình Năng Chung, ông Nguyễn Đức Hạnh.

Cũng có thể vào thế kỷ XVI, XVII Hòa An là trung tâm kinh tế, chính trị, xã hội của cả khu vực, ở đó có sông Bằng Giang tạo nên phù sa cho cánh đồng lúa tốt, vùng khác do địa hình miền núi không có ruộng, và cả về xây dựng nhà cửa cũng không thể xây dựng kiến trúc như ở Đà Quận được, họ chỉ làm nhà sàn, như vậy nghiễm nhiên Đà Quận trở thành trung tâm.

Như vậy đến nay chưa có chứng tích, nói vùng này từ xưa do An Dương Vương làm chủ. Tuy chưa có gì để khẳng định thành Bản Phủ có từ thời An Dương Vương nhưng về vấn đề bảo tồn, qua đợt khảo sát ở Hưng Đạo đã thấy rất nhiều di tích. Những lớp cổ từ thời tiền sử cho đến lịch sử thì rất nhiều và chúng ta biết rằng qua một số nơi đào khảo sát cho thấy rằng cần phải có đầu tư về thời gian, về vật lực và cả kinh phí nữa cho các cuộc khai quật hoặc cho các cuộc nghiên cứu nó sâu rộng hơn để tìm được cái trầm tích, văn hóa, lịch sử của khu vực này, di tích ở xóm Đà Quận là di tích lớn còn nhiều bí ẩn còn đang ẩn chứa dưới lòng đất.

Du lịch, GO! - Theo Văn Hoàng (Langtoday), ảnh internet

Thứ Ba, 8 tháng 1, 2013

Du lịch Cù lao Ông Hổ - An Giang

Cù lao Ông Hổ, nay thuộc xã Mỹ Hòa Hưng, TP.Long Xuyên (An Giang), quê hương của Bác Tôn. Trên cù lao có khu lưu niệm và đền thờ Chủ tịch Tôn Đức Thắng trong khuôn viên hoa trái xum xuê.

Xem thêm »

Thứ Năm, 3 tháng 1, 2013

Những nhịp cầu chứng nhân - Kỳ cuối

Đường thiên lý một dải...
Nhạc sĩ Phạm Duy khi mở đầu Trường ca Con đường cái quan đã viết: “Đi từ ải Nam Quan cho tới mũi Cà Mau/Đi từ ngày lập quốc cho tới khi đã hoàn thành xứ sở...”.

< Phối cảnh cầu Năm Căn.

Không chỉ Phạm Duy, nhiều tác phẩm văn chương, âm nhạc cũng từng dùng cặp địa danh ải Nam Quan - mũi Cà Mau để nói về con đường xuyên đất nước. Thực tế con đường nối liền hai mảnh đất địa đầu ấy vẫn là giấc mơ, khi từ thuở cha ông đi mở cõi đến giờ, đường thiên lý của nước Việt chỉ mới đến được thị trấn Năm Căn (Cà Mau) - nơi con sông Cửa Lớn đầy sóng gió cắt ngang đường về đất mũi.

Nhưng nay giấc mơ về đường thiên lý một dải ấy đã sắp thành sự thật khi cây cầu Năm Căn vừa được khởi công. Cây cầu sẽ trở thành chứng nhân cho niềm đau đáu đã bao thế kỷ của người dân vùng cuối đất VN.

Giấc mơ thiên lý

Hơn 50km quốc lộ 1 từ Cà Mau về Năm Căn có lẽ là những cây số hoang vu nhất trên tuyến đường xuyên Bắc - Nam. Hai bên đường nhà cửa thưa vắng, lau trắng bạt ngàn. Từ trên đỉnh cầu Đầm Cùng - điểm cao nhất của đoạn đường, dõi mắt bốn phía vẫn chỉ bạt ngàn rừng đước và kênh rạch.

Vậy mà ông Năm Khởi (tên thật là Phan Văn Kênh), nguyên bí thư huyện ủy Ngọc Hiển (nay là Năm Căn và Ngọc Hiển) đầu những năm 1980, nói giờ mỗi khi gặp người Năm Căn đi xa lâu ngày, kể về con đường “hoang vu” ấy nhiều người còn mừng rỡ, không tin là sự thật. Bởi đâu xa, vào những năm cuối thập niên 1990, con đường ấy vẫn còn chưa đắp nhựa, tàu cao tốc cũng chưa có. Đường về Cà Mau thăm thẳm tới cả ngày trời sông nước, nói như cây bút ký sự đất Cà Mau - nhà văn Võ Đắc Danh - thì: “Từ Cà Mau cứ lên tàu ngồi nhậu, nhậu say ngủ một giấc rồi tỉnh dậy nhậu nữa tới say. Nếu tàu chạy lẹ chắc cũng về tới đất mũi”.

Bởi vậy, ông Năm Khởi không ngạc nhiên vì sao ngày khởi công cầu Năm Căn hồi tháng 8-2012, bà con “phi” cao tốc, vỏ lãi hà rầm về coi, đậu chật kín một khúc bờ sông Cửa Lớn. Rồi giờ, ngày nào ít cũng có chục chuyến cao tốc trên đường về đất mũi lại ghé vô công trường để coi cây cầu đã xây tới đâu cho bớt nóng lòng. Cũng như bà con miệt cuối đất này, cho tới ngày làm bí thư huyện ủy, ông Năm Khởi vẫn chưa được một lần về Cà Mau hay xuôi đất mũi bằng lộ cho đã chân.

< Các đơn vị thi công động thổ xây dựng cầu Năm Căn.

Phải mấy năm sau ngày ông nghỉ hưu, đoạn 1985-1986 mới có con lộ đất bé xíu về Cà Mau mà phải qua quá trời đò, phà. Dần dần, xáng cạp đắp con lộ ấy to hơn và trở thành quốc lộ 1 với đường đắp nhựa những năm 2000.

Nhưng đó là đường về Cà Mau, còn xuôi về phía đất mũi, cả huyện Ngọc Hiển vẫn là một hòn đảo ngăn cách bởi ba bề đại dương và dòng sông Cửa Lớn. Ông Năm Khởi ví von: “Nếu sách kỷ lục VN chịu công nhận thì chắc chắn Ngọc Hiển sẽ là huyện có ôtô ít nhất cả nước. Bởi tới giờ cả huyện mới có... ba chiếc ôtô, được dùng làm xe công vụ cho ủy ban và huyện ủy”. “Không phải dân Ngọc Hiển nghèo không có tiền sắm, mà vì không lẽ sắm ôtô rồi chạy xà quần trong sân nhà mình” - ông Năm Khởi tiếu lâm khi nói về vùng đất bờ nam sông Cửa Lớn, nơi duy nhất của cả nước vẫn chưa có đường ôtô từ trung tâm huyện về tới tất cả các xã.

Biệt lệ ở nghị trường

Không phải chỉ người Cà Mau mong chờ cầu Năm Căn, mà người trong cả nước, những ai biết về vị trí quan trọng của cây cầu, từng suy nghĩ về một con đường nối liền mạch đất nước đều mong chờ. Nỗi mong chờ ấy đã được thể hiện không gì rõ hơn bằng phiên họp toàn thể của kỳ họp thứ 3 Quốc hội khóa XIII ngày 18-6-2012, khi đa số đại biểu đã biểu quyết bổ sung vốn từ nguồn trái phiếu Chính phủ để xây cầu Năm Căn.

“Một quyết định đặc biệt để xây dựng cây cầu đặc biệt” - ông Dương Tiến Dũng, phó chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau, đã nói vậy về quyết định cấp 650 tỉ đồng để xây cầu Năm Căn từ cơ quan dân cử cao nhất cả nước. Trước đó, nguồn vốn để xây cầu Năm Căn tưởng như bế tắc khi kinh tế khó khăn, Quốc hội ra nghị quyết dừng bổ sung vốn từ trái phiếu Chính phủ để xây các công trình mới. Nhưng câu chuyện từ đất mũi, từ nỗi mong chờ về con đường nối liền bán đảo Cà Mau, nối liền đất nước đã đưa cầu Năm Căn trở thành câu chuyện biệt lệ ở nghị trường.

Để có được biệt lệ ấy, từ năm 2009 chính quyền Cà Mau đã tìm nhiều cách để chuyển tải niềm mong mỏi của người dân về cây cầu Năm Căn đến trung ương. Ông Dương Tiến Dũng nhớ người đầu tiên lãnh đạo tỉnh tham khảo là nguyên Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết. Sự rụt rè ban đầu của lãnh đạo tỉnh nhanh chóng tan biến khi nhận được sự tán đồng của nguyên Chủ tịch nước.

Vậy là tranh thủ mọi cơ hội, Cà Mau đề xuất, giới thiệu với trung ương về tầm quan trọng của cầu Năm Căn, về nỗi mong ngóng của người dân vùng cuối đất. Chuẩn bị sẵn sàng cả các khâu từ khảo sát, thiết kế, mặt bằng trong khi chờ trung ương duyệt. Nhờ vậy mà chỉ hơn hai tháng sau ngày Quốc hội thông qua, ngày 29-8-2012, cây cầu mơ ước của người dân Cà Mau đã được khởi công.

Cầu Năm Căn đang được xây - đường thiên lý sắp liền một dải, ước mơ tưởng quá bình dị nhưng đằng đẵng đã bao năm về một con lộ đi cho đã chân của người dân miệt cuối đất sắp sửa thành hiện thực. Ông Dương Tiến Dũng kể người dân phía đất mũi dường như không còn nén được sự mong chờ nữa. Hồi mới rục rịch có tin Chính phủ sẽ cấp vốn xây cầu Năm Căn, dân Ngọc Hiển đã phi tàu cao tốc về Cà Mau mua xe máy rần trời dù chưa có đường chạy.

Chính quyền tỉnh Cà Mau cũng nóng lòng theo, cấp luôn kinh phí làm trước 20km lộ nhựa ngược lên từ đất mũi cho bà con chạy đỡ trong khi chờ cầu xây xong. “Giờ ngày nào điện thoại của tui cũng rộn cuộc gọi từ dân dưới đó, mà hỏi miết có một câu: Vậy chớ hồi nào mới xây xong cầu Năm Căn vậy ông phó chủ tịch?” - ông Dương Tiến Dũng cười rổn rảng.

Dự án cầu Năm Căn có cầu bêtông vĩnh cửu dài 890m, đường dẫn hai đầu hơn 2.500m, cầu có độ tĩnh không 30m đảm bảo cho tàu thuyền lớn qua lại, dự kiến xây dựng trong 18 tháng. Kỹ sư Trần Duy Trường - phó giám đốc chi nhánh Công ty xây dựng 479 tại Cà Mau, cho biết: Vì được xây trên một nền địa chất non yếu nên cầu Năm Căn là cây cầu có kỹ thuật xây dựng rất phức tạp, có cọc móng nhồi sâu đến 91m (bình thường chỉ khoảng 60m). Đồng thời dầm giữ lưu của nhịp chính còn có thêm cáp giữ lực phía ngoài.

Ngoài việc xóa thế cách trở cho huyện Ngọc Hiển, cầu Năm Căn sẽ có sự cộng hưởng trong việc phát triển kinh tế cả tỉnh Cà Mau và khu vực, khi cảng nước sâu Hòn Khoai được xây dựng có thể đón tàu trên 100.000 tấn bốc dỡ hàng hóa.
Hết.

Kỳ 1: Chứng nhân “răng cưa”
Kỳ 2: Cầu Nguyễn Văn Trỗi: “Nàng Lọ Lem” của Đà Nẵng
Kỳ 3: Ân tình trên bến Cà Tang
Kỳ 4: Cầu cao nhất Đông Nam Á - soi bóng vào ký ức...
Kỳ 5: “Kỳ quan” Tây Bắc xưa.
Kỳ cuối: Đường thiên lý một dải

Du lịch, GO! - Theo Nguyễn Viễn Sự (TTO) và nhiều nguồn ảnh khác.

Thứ Tư, 2 tháng 1, 2013

Những nhịp cầu chứng nhân - Kỳ 4

Cầu cao nhất Đông Nam Á - soi bóng vào ký ức...

Cây cầu cao nhất VN và cả Đông Nam Á mang tên Pá Uôn, nằm trên địa phận xã Chiềng Ơn, sát ngay thị trấn Phiêng Lanh, “thủ phủ” mới của huyện Quỳnh Nhai (Sơn La).

Ký ức phà xưa...

Trước khi có cây cầu Pá Uôn, nhắc đến Quỳnh Nhai, ai từng qua đây đều khó quên những chuyến phà nhọc nhằn. Để đến được trung tâm huyện Quỳnh Nhai và các bản làng người Thái nằm dọc dòng sông Đà này, chỉ có mỗi con đường độc đạo và bắt buộc phải qua phà Pá Uôn, bến phà duy nhất nối Sơn La với huyện lỵ nghèo nằm cuối tỉnh.

Là người dân tộc Thái, sinh ra tại mảnh đất Sơn La, ông Điêu Chính Tới, trưởng phân xã Thông tấn xã VN tại Sơn La, như không thể quên những kỷ niệm về bến phà này. “Trước đây, để qua lại giữa hai bờ, người dân và cán bộ chỉ có đi đò ngang. Nhưng đến năm 1979, chiến tranh biên giới nổ ra, quân đội triển khai làm quốc lộ 279 (gọi là quốc lộ 279 bởi thi công vào thời điểm lịch sử, tháng 2-1979) chạy qua Quỳnh Nhai thì lúc ấy người dân mới biết đến phà. Khi đó cũng chỉ là phà nhỏ để chở người và máy móc, nguyên vật liệu”.

< Cầu Pá Uôn hồi đang thi công...

Làm đường xong, bộ đội đi nhưng chiếc phà được giữ lại dùng để chở người, xe máy, ôtô (mỗi chuyến chỉ một ôtô)... Mãi đến tận những năm 2000, khi có chủ trương làm thủy điện Sơn La, để chuẩn bị cho công tác di dân thì mới có phà lớn hơn xuất hiện ở Pá Uôn, gọi là lớn nhưng mỗi chuyến phà cũng chỉ chở tối đa được ba ôtô mà thôi.

Phà Pá Uôn qua sông Đà khi đó là một phần của con đường, và bến phà nhỏ chỉ duy nhất một chiếc phà chạy đi, chạy về này chính là một trong những nguyên nhân khiến thời gian của những hành trình thêm dài ra.

Ông Tới bồi hồi: “Trước đây, mỗi lần phải vào Mường Chiên (thị trấn huyện Quỳnh Nhai), khi chưa có phà lớn, vẫn là phà nhỏ, đò ngang thì 100 cây số đường phải đi từ sáng sớm có khi 4-5g chiều mới đến nơi. Sau có phà lớn hơn thì rút ngắn xuống 2-4 tiếng hành trình tùy mùa nước và lượng khách đông vắng thất thường.

< ... và hợp long ngày 18.4.2010.

Thành ra mỗi chuyến công tác vào Quỳnh Nhai là một chuyến hành xác, vất vả đợi chờ phà. Vì không còn đường nào khác để đến Quỳnh Nhai, để đi Lào Cai, Yên Bái nên mọi người và xe vẫn phải lũ lượt xếp hàng chờ xuống phà Pá Uôn. Để qua được phà, từ lúc đợi bên bờ này sang đến bờ bên kia chỉ vài ba trăm mét cũng mất hàng tiếng đồng hồ”.

Chúng tôi cũng có nhiều dịp được qua phà Pá Uôn. Bến phà này nằm trên địa phận xã Chiềng Ơn (Quỳnh Nhai). Đoạn sông Đà chỗ này vào mùa cạn chỉ rộng chừng 200m, nhưng nước càng xuống cạn thì đường dẫn xuống phà ở hai bên bờ càng dốc, xe máy, ôtô rất khó khăn trong việc lên xuống phà. Mùa lũ, lòng sông rộng gấp 2-3 lần mùa cạn, xe cộ xuống phà dễ hơn, nhưng dòng nước mùa lũ lại khiến người lái canô đẩy phà phải tính toán, lựa dòng chảy để đưa phà qua sông.

Cuối năm 2005, khi thủy điện Sơn La được khởi công xây dựng, cũng là lúc cả huyện Quỳnh Nhai ngác ngơ vì 9/13 xã của huyện này sẽ phải di dời. Chúng tôi trở lại Quỳnh Nhai trước khi cả huyện này sẽ bị nhấn chìm dưới lòng hồ thủy điện. Đến bến phà giữa trưa, công nhân vận hành phà vẫn còn nghỉ ngơi sau bữa ăn, mặc khách và xe xếp hàng dài trên bến. Phải nhờ vả, nài nỉ mãi các công nhân mới “nể nhà báo” uể oải đứng dậy đi ra bến vận hành phà.

Những ngày làm việc ở Quỳnh Nhai, kể lại chuyện “độc quyền” của nhà phà, anh Nguyễn Tiến Sơn, trưởng Đài truyền thanh truyền hình huyện, rỉ tai bày cho chúng tôi: “Tốt nhất lúc trở ra, để kịp công việc, nên xin cái thư tay của bí thư, chủ tịch huyện”.
Và chuyến đó, nhờ “món quà” của lãnh đạo huyện, nên khi sẩm tối, xe chúng tôi đến bến phà thấy đoàn xe dài dằng dặc mà phát ớn. Dưới sông, con phà nhỏ chở ba ôtô, vài chiếc xe máy với người cứ lừ lừ, ì ạch đưa khách sang bờ bên kia, rồi lại chậm rãi đón khách đưa về bờ bên này.

Anh đồng nghiệp chạy xuống bến phà, chìa quyển sổ tay có bút tích của vị lãnh đạo huyện “Đề nghị phà Pá Uôn tạo điều kiện cho đoàn đại biểu Quốc hội báo qua phà thuận lợi “(có lẽ do loáng thoáng nhìn thấy tờ giấy phù hiệu Quốc hội ở kính trước ôtô nên ông viết đại như thế). Anh cán bộ nhà phà như đã quá quen nét chữ của sếp nên vội vàng chạy ngược lên đường, băng qua cả chục chiếc xe tải, ôtô, cả xe biển đỏ để lia đèn pin mở đường cho xe xuống bến.

Món quà ân tình

Tháng 4-2010, khi dòng sông Đà chuẩn bị chặn dòng để tích nước cho phát điện tổ máy số 1 thủy điện Sơn La thì khi đó ngay phía trên bến phà Pá Uôn chưa đầy cây số, một cây cầu sừng sững cao vợi cũng gấp rút hoàn thành để chuẩn bị cho ngày hợp long, thông xe cây cầu cao nhất VN.

Đã hơn hai năm kể từ ngày cây cầu Pá Uôn chính thức thông xe (tháng 8-2010), nhưng ông Phạm Hữu Sơn, tổng giám đốc Tổng công ty Tư vấn thiết kế giao thông vận tải (TEDI - đơn vị thiết kế “cha đẻ” cây cầu), vẫn nhớ như in: ban đầu tỉnh Sơn La và TEDI đều nghiêng về phương án cầu dây văng, nhưng tính toán bàn bạc kỹ và có yếu tố an ninh quốc phòng nên phải thay đổi.

Với những yêu cầu về kỹ thuật rất cao, cầu phải chịu được động đất cấp 8, cấp 9, đồng thời phải đảm bảo độ “thông thuyền” theo tiêu chuẩn cấp 1 tức rộng 80m, cao 10m để tàu, thuyền có thể qua lại. Mà với phương án thủy điện có “cốt” 215m thì cầu phải làm cao, nhịp cầu dài đến 130m (dài nhất đến thời điểm đó). Vậy làm sao để có cầu cao đến 105m, mà riêng trụ cầu tính từ mặt đất lên mặt dưới đáy cầu là 98m...

“Đây là những khó khăn, thách thức lớn nhất cho TEDI cũng như năm đơn vị thi công sau này. Khi đó tổng dự toán cầu là trên 740 tỉ đồng, nhưng vấn đề không phải là tiền xây cầu, mà quan trọng hơn cây cầu đem lại hiệu quả kinh tế như thế nào. Ngày chặn dòng đến gần, cả huyện Quỳnh Nhai sẽ chìm nghỉm... Đó là những động lực để những người thợ cầu chúng tôi làm ngày làm đêm trong suốt ba năm trời để có cây cầu cao nhất VN, cao nhất Đông Nam Á”.

Theo ông Sơn, việc trụ cầu cao đến trăm mét, cao nhất Đông Nam Á đã là một kỷ lục về độ khó trong thiết kế. Để thi công thân trụ có chiều cao lớn không thể áp dụng các biện pháp thi công thông thường mà phải áp dụng công nghệ thi công đặc biệt, đó là dùng ván khuôn leo hoặc ván khuôn trượt, đòi hỏi trình độ tay nghề cán bộ công nhân cao.

< Cây cầu cao nhất VN và cả Đông Nam Á mang tên Pá Uôn như một món quà ân tình dành cho người dân Tây Bắc.

Cầu Pá Uôn hoàn thành, đưa vào sử dụng từ tháng 8-2010 như một món quà ân tình dành cho người dân Tây Bắc - những người sống bên sông Đà đã hi sinh nhà cửa, ruộng vườn cho thủy điện Sơn La.

Có cây cầu, người từ Sơn La có thể nhanh chóng, thuận tiện đến với Quỳnh Nhai, đến với Sa Pa (Lào Cai), Mù Cang Chải (Yên Bái) hay Tam Đường (Lai Châu) một cách dễ dàng. Cầu Pá Uôn vượt lòng hồ, nối hai sườn núi cứ ẩn hiện trong sương mù Tây Bắc, và không chỉ dừng ở vẻ đẹp, cây cầu đang tạo đà phát triển cho cả vùng núi rừng Tây Bắc...


Du lịch, GO! - Theo Đức Bình, Lê Đức Dục (TTO) và nhiều nguồn ảnh khác.

Những nhịp cầu chứng nhân - Kỳ 3

Ân tình trên bến Cà Tang

Được khánh thành cuối năm 2005, cầu Nông Sơn đã bảy mùa mưa nắng gắn liền những nhịp đời lam lũ của người dân quanh bến Cà Tang, xã Quế Trung (Nông Sơn, Quảng Nam).

< Cầu Nông Sơn đầy tình nghĩa.

Chứng nhân ân tình

Những khối sắt thép bêtông dù đã ngả màu xám xịt nhưng Nông Sơn mãi mãi là chứng nhân cho ân tình đồng bào khắp miền đất nước, xoa dịu nỗi đau chìm đò làm 18 em nhỏ thiệt mạng trên bến Cà Tang gần 10 năm trước.

< Dòng Thu Bồn êm ả.

Chúng tôi trở lại bến Cà Tang vào một ngày tạnh ráo, nước sông Thu Bồn êm ả luồn qua những trụ cầu Nông Sơn. Không có cái am thờ màu vàng nhạt nằm sát mé sông nghi ngút khói hương thì người ở xa đến chẳng thể hình dung bến sông này đã từng xảy ra vụ chìm đò tang thương.

Nếu có một kỷ lục về quyết định xây dựng cầu thì Nông Sơn có lẽ là cây cầu được quyết định khởi công nhanh nhất. Quyết định ấy được đưa ra ngay bên hành lang kỳ họp Quốc hội vào buổi sáng 23-5-2003. Những phóng viên theo dõi cuộc họp Quốc hội ngày ấy vẫn nhớ trong giờ giải lao, chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam lúc ấy là ông Nguyễn Xuân Phúc (nay là phó thủ tướng Chính phủ), sau cuộc điện thoại rất dài với Phó chủ tịch tỉnh Lê Minh Ánh đã quay sang báo tin cho các phóng viên về quyết định khởi công xây dựng cây cầu, và phải khởi công ngay trước mùa lũ năm ấy.

Vậy là chưa đầy bốn ngày sau vụ chìm đò, việc xây cầu Nông Sơn đã được quyết định. Nhưng nỗi đau đáu phải có một cây cầu bắc qua bến Cà Tang thì đã sôi lên trong lòng người dân cả nước ngay trong buổi sáng 21-5-2003.

Khi những dòng tít chạy dài như vành tang trắng về vụ chìm đò trên trang nhất của rất nhiều tờ báo. Cho dù chưa ai phát động, chưa biết cây cầu sẽ tên gì, chưa biết xây ra sao và khi nào sẽ xây, nhưng nỗi rưng rưng và tấm lòng của đồng bào cả nước cứ ào ạt hơn cả dòng nước Thu Bồn mùa lũ tràn về bến Cà Tang.

< Bến phà Ca tang cạnh cầu dành cho xe tải.

Ở báo Tuổi Trẻ, ngay trong ngày đầu tiên, ngoài gần 40 triệu đồng giúp gia đình 18 em nhỏ, đã có 115 triệu đồng của bạn đọc góp xây cầu. Bạn đọc đầu tiên gửi gắm với Tuổi Trẻ về việc xây cầu cho đến giờ cũng chưa ai biết tên. Chỉ biết vài giờ sau khi báo phát hành, một người đàn ông trung niên đã đến gửi lại 300.000 đồng, kèm mảnh giấy với dòng chữ: “Tha thiết đề nghị báo Tuổi Trẻ đứng ra tổ chức nhận những tấm lòng khắp đất nước để bến Cà Tang có một cây cầu”. Để rồi số báo ngày 23-5, Tuổi Trẻ là nơi đầu tiên đứng ra vận động quyên góp “Vì một cây cầu cho trẻ em Nông Sơn”. Chỉ trong một tuần, hơn 1 tỉ đồng đã được bạn đọc gửi đến Tuổi Trẻ để xây cầu Nông Sơn, và cho đến lúc cầu được hoàn thành là 2,8 tỉ đồng, con số kỷ lục của một đợt quyên góp vào thời điểm ấy của Tuổi Trẻ.

Và ở nhiều tờ báo khác, nhiều cơ quan khác, nhiều miền đất khác trong cả nước, câu chuyện đau thương ở bến Cà Tang, về cây cầu phải có, cứ làm cho dự án cầu Nông Sơn liên tục thay đổi.

Ban đầu tỉnh Quảng Nam dự định chỉ xây một cây cầu treo vì tỉnh nghèo chỉ trích ngân sách được 1 tỉ đồng, còn lại nhờ thêm Bộ GTVT, các công ty xây dựng và các tấm lòng khác đóng góp. Nhưng cuối cùng không phải cầu treo mà là một cây cầu bêtông với vốn đầu tư lên đến 21 tỉ đồng, hình thành nên một chứng nhân Nông Sơn vững chãi bây giờ.

Xoa dịu nỗi đau

Bến Cà Tang sau gần 10 năm vụ chìm đò thảm khốc, nỗi đau vẫn không thể theo sông chảy về xuôi. Nhưng cầu Nông Sơn ra đời đã âm thầm nâng đỡ cho cư dân trong vùng thêm no ấm. Mọi thứ trên bến đò xưa đổi thay từ ngày có cây cầu.

Con đường cũ chạy dọc xuống bến sông lởm chởm đá ngày trước đã được đổ bêtông phẳng lì. Một tuyến đường mới dài gần 1km nối từ đầu dốc bến đò chạy thẳng lên phía nam đầu cầu san sát nhà xây. Tuyến đường ĐT 610 nối từ quốc lộ 1 ở Duy Xuyên kéo đến bến đò rẽ làm hai lối dọc theo mé sông. Lối đi mới khai sinh từ khi có cầu theo hướng tây tạo thành một vành đai song song với dòng sông kéo thẳng tới Hòn Kẽm Đá Dừng. Vùng đất trù phú với hai biền dâu xanh bừng tỉnh khi có cây cầu bắc qua. Những ngôi làng biệt lập với xóm dưới của ngọn núi Cà Tang, chỉ biết đi bằng đò, ghe dọc theo sông Thu Bồn, đã nhiều đời nằm mơ cũng không nghĩ có ngày kiếp đò giang cách trở sẽ khép lại.

Buổi sáng, đứng ở đầu cầu dễ dàng bắt gặp những chiếc xe máy chở đầy bắp, sắn, khoai lang và củi khô... chạy từ những ngôi làng nhỏ bên kia sông về chợ Trung Phước bán. Những chuyến xe Minsk cũ kỹ chất đầy cá biển lao vút trong sương sớm hướng về phía thượng nguồn của dòng sông. Những chiếc xe đạp của các cô cậu học trò hối hả qua cầu để đến lớp. Cái bến đò bên dưới cây cầu ngày trước bây giờ chỉ là bến cập phà để xe tải quá khổ chở than. Vừa đón khách, tay pha trà, ông Nguyễn Thanh Hải, chủ một quán cà phê sát đầu cầu, tâm sự: “Không ai nói ra nhưng người dân trong vùng hiểu rằng nếu không có các em mất đi thì chắc hẳn chưa có cây cầu này. Cây cầu ra đời từ một nỗi đau nhưng chừ thì chính nó đang xoa dịu nỗi đau nớ...”.

Nhắc đến các em nhỏ, ông Trần Văn Sáu, một người bố may mắn khi con trai của mình là Trần Thanh Phúc thoát chết trong chuyến đò chiều hôm đó, khoe: “Mấy chục đứa học sinh khóa nớ ở bên ni đầu cầu đều nên người chú ạ! Các em nhỏ thoát chết, cố học rồi cũng thành người có ích. Em đi du học ở Nhật, em học ở Nga, có mấy em học xong ở TP.HCM, Hà Nội... Có em làm việc cho Công ty than Nông Sơn”. Thằng Thanh Phúc, con trai ông Sáu, cũng là nhân viên của công ty than nơi ông từng công tác.

Những người ở lại đều thấy rõ sự đổi thay, nhưng với những người ra đi sau buổi chiều đau xót đó, mọi thứ dường như khựng lại. Ông Sáu bùi ngùi: “Nhiều gia đình bạn tôi đã dọn đi nơi khác. Mỏ than này đa số thợ mỏ người ngoài Bắc nên họ âm thầm ra đi về quê cũ. Nhiều người có điều kiện hơn cũng dọn đi vì họ không muốn bám víu một vùng đất cơ cực và hiểm họa rình rập con cái họ như vậy...”. Dẫn chúng tôi ra bờ sông, dưới chiếc am thờ màu vàng nhạt, ông Sáu thắp nén nhang khấn nguyện. Năm nào cũng vậy đến ngày giỗ các em, ông Sáu và nhiều phụ huynh khác trong làng cũng ra bờ sông để nhang khói, quét sơn lại am thờ.

< Bảng ghi nhận tấm lòng vàng của cả nước ven đường lên cầu.

Những niềm vui mới lẫn nỗi đau cũ vẫn còn đây trên bến Cà Tang. Và có lẽ vì thế sự vững chãi của Nông Sơn đâu chỉ cần cho những chuyến ngược xuôi của người dân vùng sơn cước Cà Tang. Chứng nhân ân tình ấy còn là nơi để xoa dịu và nhắc nhớ cho tất cả về chuyến đò tang thương năm nào.

Còn tiếp

Du lịch, GO! - Theo Tấn Vũ, Nguyễn Sự (TTO), internet

Những nhịp cầu chứng nhân - Kỳ 2

Cầu Nguyễn Văn Trỗi: “Nàng Lọ Lem” của Đà Nẵng

Đó là chữ dùng của nhà điêu khắc Phạm Văn Hạng để nói về cầu Nguyễn Văn Trỗi, cây cầu có tuổi đời ngót nửa thế kỷ, sắp sửa hoàn thành sứ mệnh lưu thông cho người Đà Nẵng và được quyết định giữ lại như một kỷ vật của thành phố.

Ông Hạng - người con của Đà Nẵng, lớn lên, khoác áo phong sương đi khắp miền đất nước, mỗi bận trở về vẫn cứ chọn cho mình một điểm tựa lưng trên chiếc cầu cũ kỹ. Đốt thuốc, rồi phóng tầm mắt ra những công trình hiện đại mọc lên... Để biết, không gì có thể thay thế được những nhịp cầu, dầm thép có màu vàng ngà của cây cầu vì nó chứa đựng cả một trời ký ức của thành phố ven sông Hàn.

< Cầu Nguyễn Văn Trỗi (Đà Nẵng) khi mới xây dựng.

Chứng nhân của Đà Nẵng

“Nàng Lọ Lem thì tất nhiên là quê mùa, cũ kỹ, lóng ngóng... nhưng bao giờ cũng xinh xắn, đáng yêu và làm sao có thể xa lánh, hắt hủi cho được” - nhà điêu khắc Phạm Văn Hạng ví von về cây cầu cũ kỹ nhất bắc qua sông Hàn, đã chở không biết bao nhịp đời của người Đà Nẵng. Ngẫu nhiên trở thành chứng nhân cho thành phố, từ những ngày cây cầu còn là điểm cao nhất nhô lên giữa lau lách ven sông Hàn, nay đã trở nên bé nhỏ giữa những cây cầu hiện đại và cao ốc đua nhau vươn tầm.

< Tiểu đoàn 91 (Trung đoàn 97, Sư đoàn 2, Quân khu 5) vượt qua cầu Trịnh Minh Thế (nay là cầu Nguyễn Văn Trỗi) tiến về giải phóng Đà Nẵng ngày 29/3/1975.

Ông Lê Duy Anh, một nhà nghiên cứu về Đà Nẵng, nói không có gì phải tranh cãi về hai chữ “chứng nhân” với cầu Nguyễn Văn Trỗi khi cầu còn xưa hơn cả mốc thời gian 1965 mà đa số người Đà Nẵng vẫn tin đó là lúc có cây cầu đầu tiên bắc qua sông Hàn.

Thời Pháp thuộc đã từng có cây cầu gỗ bắc qua sông Hàn trên vị trí cầu Nguyễn Văn Trỗi bây giờ. Nó mang tên De Lattre de Tassigny - một vị tướng của nước Pháp trên cả chiến trường Tây Âu và Đông Dương. Nhưng cái tên đó đã bị thay thế bằng tên Trịnh Minh Thế theo cách gọi của chế độ cũ khi một chiếc cầu thép lắp ghép được Hãng RMK của Mỹ xây dựng năm 1965. Để rồi 10 năm sau, khi quân giải phóng tiến vào làm chủ Đà Nẵng, tên người anh hùng xứ Quảng Nguyễn Văn Trỗi đã được đặt cho cây cầu, đi theo ký ức của người Đà Nẵng đến hôm nay.

< Bia tưởng niệm liệt sĩ Nguyễn Văn Dự ở đầu cầu phía Tây cầu Nguyễn Văn Trỗi.

Bởi thế, nhà nghiên cứu Lê Duy Anh nói khó thể tìm đâu một công trình lưu dấu ký ức của Đà Nẵng bằng cây cầu này. Ký ức ấy như của ông là về một thời Đà Nẵng trong vai trò “căn cứ quân sự liên hợp khổng lồ” của Mỹ - lý do thôi thúc quân đội Mỹ xây dựng cây cầu. Về những người dân Đà Nẵng nghèo khó, nhìn từng đoàn xe nhà binh từ cảng Tiên Sa chạy qua cầu mà xót xa cho nỗi niềm chiến tranh ly loạn.

Ký ức ấy như nhà văn Thái Bá Lợi lại là nỗi hân hoan trào dâng khi ông có mặt ở cây cầu này ngay buổi xế trưa 29-3-1975 và ít giờ sau thì quân giải phóng tuyên bố giải phóng Đà Nẵng. Đó là thời khắc không chỉ có cờ hoa mà nhiều xương máu đã đổ xuống.

Thời khắc ấy, bây giờ cầu Nguyễn Văn Trỗi vẫn mang theo với tượng đài chiến sĩ Nguyễn Văn Dự (biệt động thành Đà Nẵng), chiến sĩ giải phóng cuối cùng ngã xuống khi đang cùng đồng đội đánh chiếm bến tàu quân sự dưới chân cầu, chỉ hai giờ trước lúc cờ cách mạng được cắm trên nóc tòa thị chính Đà Nẵng.

Và ký ức ấy có khi giản đơn mà đau đáu như ông Nguyễn Phu, người từng là thượng sĩ trong quân đội chế độ cũ với nhiệm vụ ngồi quay những biển xanh, biển đỏ cho xe qua cầu, nay là một người trồng rau cải trên khoảnh đất bé xíu dưới chân cầu.


< Cầu Nguyễn Văn Trỗi sẽ được giữ lại bên cạnh những cây cầu hiện đại đang nối nhau bắc qua sông Hàn.

Ông Phu nói luống rau cải như một cái cớ để ông được ngắm nhìn cây cầu mỗi ngày. Để nhớ dĩ vãng bao năm của cây cầu không chỉ có xe nhà binh qua lại mà có tất thảy bóng dáng của những người dân Đà Nẵng, Quảng Nam. Là thúng cá của xóm chài Nại Hiên, gánh rau từ vùng Trà Quế, là xe than, xe quế từ miền cao Khâm Đức, Trà My... Những miền ký ức về sự tần tảo bé mọn của người xứ Quảng, từng góp phần tạo nên vóc dáng của Đà Nẵng mà cây cầu chở che.

Giữ nét quê mùa

Bây giờ con sông Hàn đã trở thành dòng sông của những cây cầu hiện đại với cầu quay sông Hàn, cầu dây văng Thuận Phước, cầu Trần Thị Lý, cầu Rồng và cầu Tuyên Sơn... Và đó là lý do vì sao nhà điêu khắc Phạm Văn Hạng nói không cần làm đẹp gì cả, cứ giữ lại “nàng Lọ Lem” quê mùa của sông Hàn như vốn dĩ ký ức của người Đà Nẵng.

< Cầu sẽ trở thành gạch nối giữa quá khứ với hiện tại và tương lai của đô thị Đà Nẵng.

Ông Hạng chính là người được Đà Nẵng mời tạo dáng kiến trúc cho cầu Rồng - cây cầu sẽ góp phần thay thế vị thế về giao thông cho cầu Nguyễn Văn Trỗi. Và hơn một năm trước, ông là một trong những người đầu tiên trong giới nghệ sĩ ở Đà Nẵng đề xuất với thành phố giữ lại cầu Nguyễn Văn Trỗi. Ông Hạng quả quyết: “Quyết định giữ lại cây cầu là của chính quyền, còn việc để cây cầu mãi sống trong lòng Đà Nẵng hãy dành cho nghệ sĩ chúng tôi”.

Một trong những ý tưởng đã phác thảo ấy của nhà điêu khắc Phạm Văn Hạng là biến cầu Nguyễn Văn Trỗi thành điểm đi bộ, một không gian sống của nghệ thuật mà tất cả người Đà Nẵng đều có thể tham gia. Và một cây cầu dài thành nơi đi bộ thì nhất định phải có ghế để khách nghỉ chân, có dù che nắng. Mặt cầu sẽ trở thành nơi cho trẻ em vẽ tranh, phía dưới cầu có thể thiết kế thành bảo tàng về đời sống người xứ Quảng với sản vật, đồ thủ công được bày bán, là nơi hò khoan đối đáp dân ca, bài chòi, hay trở thành chợ hoa những ngày giáp tết.

< Ngay cạnh đó là một cây cầu hiện đại đang được khẩn trương thi công để đưa vào khai thác đầu năm 2013.

Biến cầu Nguyễn Văn Trỗi thành phố đi bộ, ông Hạng nói sẽ giúp “nàng Lọ Lem” sông Hàn giữ được nét đáng yêu, quê mùa như ký ức người Đà Nẵng mà vẫn đi cùng sự vận động không ngừng của thành phố, góp phần tô điểm đô thị. Và nhờ vậy từ một cây cầu vốn sinh ra để phục vụ chiến tranh, cầu Nguyễn Văn Trỗi sẽ trở thành điểm nhấn của nhịp sống thanh bình của Đà Nẵng.

< Cầu Nguyễn Văn Trỗi được Hãng thầu xây dựng RMK của Mỹ xây dựng, gồm 14 nhịp giàn thép Poni có tổng chiều dài 513,8m, khổ cầu 10,5m, phần xe chạy 8,5m, không có lề dành cho người đi bộ. Năm 1978, cầu được dỡ bỏ mặt cầu bằng gỗ, thay bằng kết cấu bêtông cốt thép. Năm 1996, mặt cầu lại được thay bằng các tấm thép để giảm trọng lượng (do kết cấu móng bị yếu).

Cùng với cầu Long Hồ, dẫn từ TP Cam Ranh vào sân bay Cam Ranh - Khánh Hòa (cũng do Hãng RMK xây dựng những năm 1960), cầu Nguyễn Văn Trỗi là một trong những cây cầu có kiến trúc vòm bằng giàn thép Poni hiếm hoi tại VN. >

Còn tiếp

Kỳ 1: Chứng nhân “răng cưa”
Kỳ 2: Cầu Nguyễn Văn Trỗi: “Nàng Lọ Lem” của Đà Nẵng


Du lịch, GO! - Theo Viết Sự, Đăng Nam (TTO) và nhiều nguồn ảnh khác.