Hiển thị các bài đăng có nhãn Địa danh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Địa danh. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 11 tháng 1, 2013

Phiên chợ - niềm vui và nỗi nhớ





Mỗi lần đi là một lần thêm nhớ. Cái nhớ, từ màu sắc quần áo của bà con mỗi dân tộc đến vị chén rượu ngô cay nồng, mùi khói mờ mịt của chảo thắng cố lẫn màu sương trong ngày đông lạnh sắt. Có lẽ nên gọi chợ phiên ở miền cao nguyên đá này là những phiên chợ của niềm vui và nỗi nhớ?
< Sắc màu chợ phiên.
Với những người dân vùng cao nguyên đá, chợ phiên là một phần không thể thiếu trong cuộc sống thường nhật. Những phiên chợ họp theo phiên vào ngày cuối tuần thứ bảy hay chủ nhật như chợ Quyết Tiến, chợ Đồng Văn... Hoặc họp theo phiên cách 6 ngày một, mà khi phiên sang tuần dương lịch 7 ngày, hụt đi mất một thành ra cái tên “chợ đuổi”, như chợ Lũng Phìn, chợ Phó Bảng…




< Xem điện thoại mới của bạn.

Những phiên chợ có sức cuốn hút đến lạ kỳ. Cuốn hút từ người già, người trẻ, đến đám con nít và lây sang cả du khách dừng bước nơi này.

1. Với lũ trẻ, sự cuốn hút của chợ là những món hàng đầy màu sắc, hay những món ăn trong làn khói bếp thơm nức mũi tỏa ra từ góc quầy hàng. Đó có thể là một bát phở, từ mùi đến vị đều không giống những món ăn mẹ nấu hằng ngày. Hay chỉ là một cây kem vàng óng mà cô bé tần ngần mãi trước khi quyết định mút cái đầu tiên. Nửa như muốn ăn, nửa như vẫn tiếc muốn giữ lại.



< Giàng Mí Dứ gặp ông thông gia ở chợ Mèo Vạc, cùng con trai, con dâu và cháu nội.

Còn với các chàng trai, cô gái, ngày chợ phiên là dịp để xúng xính quần áo đẹp, đi xem đồ mới và tìm một nửa tình yêu. Nhà xa, cách huyện hơn 10 cây số, Tráng Thị Tím đi chợ Mèo Vạc một mình. Cô gái mới hai mươi tuổi này hồn nhiên lắm, cười tươi trước ống kính và không quên dặn nhớ gửi lại ảnh cho em. Ở một góc chợ khác, mấy cô bé đang túm tụm với nhau, cùng ngắm chiếc điện thoại mới của bạn.

Cuộc sống hiện đại đang xóa dần khoảng cách không gian. Chiếc xe máy, cái điện thoại giờ cũng gần gũi như con ngựa và cái muôi gỗ trong nhà…



< Chia sẻ hơi ấm bên nồi thắng cố.

2. Cánh đàn ông đến chợ thì có khác. Ngoài mua bán hàng hóa cho gia đình, điều quan trọng không kém là gặp được bạn bè và cùng nhau uống đôi bát rượu. Đến chợ phiên, Giàng Mí Dứ gặp được ông thông gia, hai ông bố cùng con trai con gái nay đã là dâu rể hai nhà, và bên cạnh là cháu đích tôn. Buổi chợ trở nên đầm ấm như ngày gặp gỡ gia đình.

Từng nhóm các ông ngồi kề bên nhau. Bơ rượu cứ đong đầy vơi mãi, câu chuyện tưởng chừng chẳng bao giờ cạn. Càng thêm chuyện là càng thêm vui. Cho mãi đến khi ngất ngây say. Say ở chợ cũng chẳng phải lo, vì chồng có say đã có vợ đưa về.



< Cả gia đình có dịp được chụp ảnh "miễn phí lấy liền".

Cái lý của các bà vợ người Mông thật ra rất đơn giản. Chồng mình nếu có nhiều bạn thì đến chợ sẽ gặp gỡ nhiều. Câu chuyện xã giao hay bạn bè thăm hỏi ở vùng cao luôn kết nối bằng chén rượu. Nếu chồng ít bạn thì sẽ mời ít hoặc là được mời ít thì làm sao có thể say. Và theo cách đó, thước đo thành công về ông chồng trong quan hệ xã hội được các bà vợ chấp nhận và cho phép đến mức say mà không phải lo lắng gì.

Nếu say quá thì nằm luôn bên đường mà ngủ. Vợ vẫn kiên nhẫn ngồi bên cạnh, tranh thủ thêu vải, xe sợi hay sửa áo… Bao lần gặp hình ảnh các cô, các chị đợi chồng bất kể trưa hay chiều, nắng hay gió, lần nào tôi cũng liên tưởng tới các chị em, bạn bè ở thành phố. Và rồi hiểu ra rằng đó cũng là một phần đặc trưng khác biệt về văn hóa cuộc sống.



< Và cùng xem ảnh, chia sẻ những niềm vui.

3. Đến Hà Giang mà bỏ qua chợ phiên thì hẳn là thiếu sót lớn. Mọi nét văn hóa đời sống dường như đều hội tụ đủ cả ở đây. Cái cảm giác tự cho mình lạc vào một không gian nho nhỏ, xa lạ và rất ngỡ ngàng. Mọi hình ảnh đều mới, ánh mắt du khách cũng lấp lánh như trẻ thơ.

Mỗi lần đi là một lần thêm nhớ. Cái nhớ từ màu sắc quần áo của bà con mỗi dân tộc, đến vị chén rượu ngô cay nồng, và nhớ mùi khói mờ mịt của chảo thắng cố lẫn màu sương lẫn cái nhớ khi khẽ rùng mình trong ngày cuối đông lạnh sắt.

Những cái nhớ gộp lại khiến những bạn trẻ yêu xê dịch đầu năm rồi đã tổ chức triển lãm ảnh “Thương nhớ Đồng Văn” tìm tặng cho bà con những tấm ảnh mình chụp được trên đường "phượt". Mới đây là thời khắc đón năm mới với “Phiên chợ cuối năm” với mục đích tặng 1.000 cuốn lịch năm mới 2013 với các phiên chợ sắc màu cho đồng bào Mông, Dao, Hán, Tày, Nùng, Hoa sinh sống ở khu vực cao nguyên đá Đồng Văn.

Những cuốn lịch in bằng chính hình ảnh được các bạn chụp trong những chuyến đi, đồng thời có đánh dấu rõ đặc biệt cho các ngày có phiên chợ lùi ở Hà Giang. Có lẽ nên gọi chợ phiên ở miền cao nguyên đá này là những phiên chợ của niềm vui và nỗi nhớ?

Du lịch, GO! - Theo Hoàng Hà Mai (DulichTuoitre), internet

Ảnh trong chuyến đi chợ phiên Bắc Hà của bác Bienlao (phía dưới comment), mình thu nhỏ (700x525) và post lên đây.



< Đường đi thì thế này.



< Có những lúc mưa phùn hay sương giá rét mướt.




< Bienlao giữa chợ phiên Bắc Hà.




< Người ta bán gì vậy nhỉ, trông giống nhang...




< Chợ gia súc đây, khu vực này bán ngựa.



< 'Chàng trai trẻ' đang tán tỉnh hay sắp 'uýnh lộn'?



< Khu vực bán trâu.



< Mấy đứa trẻ thấy Bienlao chụp hình nên leo lên lưng trâu 'làm mẫu'.

Cảm ơn Bienlao.

Về Cà Mau thăm 'làng không cửa'

vùng Đất Mũi Cà Mau có một ngôi làng toàn những ngôi nhà không cửa. Điều kỳ lạ là ngôi làng thân thiện này chưa từng bị… trộm “thăm viếng” bao giờ.

Chiếc xuồng máy lượn vòng vèo trên sông rạch, giữa rừng đước bạt ngàn. Mùi cá tôm phơi khô đặc trưng của làng chài lưới Đất Mũi Cà Mau cứ phảng phất, mặn nồng. Nhà không cửa nối tiếp nhau, tựa lưng vào rừng, quay mặt ra sông rạch. Ông Lý Hoàng Tiến, Bí thư Đảng ủy xã Đất Mũi, huyện Ngọc Hiển - Cà Mau, nói: “Ở xứ này, nhà không cửa mới quý hơn nhà có cửa”.

Cởi mở, chân thành, phóng khoáng

Do quá trình đô thị hóa, những ngôi nhà xây khang trang ngày càng mọc lên nhiều hơn nên nhà không cửa ở Đất Mũi cũng vơi dần theo năm tháng. Hiện chỉ còn duy nhất ấp Xóm Mũi, mảnh đất cuối cùng trên dải đất hình chữ S có hơn 80% nhà không cửa.

Ông Trần Thanh Tùng, Trưởng ấp Xóm Mũi, cho biết: “Ấp Xóm Mũi có 341 hộ thì có khoảng 300 ngôi nhà không cửa. Khoảng năm 1995 trở về trước thì số nhà không cửa ở ấp này là 100%. Còn khoảng trước năm 1990 thì cả xã Đất Mũi hầu như là nhà không cửa”.

< Những căn nhà không cửa ở Đất Mũi.

Ngôi nhà sàn lợp lá dừa nước nép bên con lộ nhựa mới toanh dẫn vào Khu Du lịch Mũi Cà Mau của gia đình ngư dân Nguyễn Văn Đá (Tám Đá) trống tênh hênh, lộ rõ cả khu rừng phía sau nhà. Vợ chồng ông Tám Đá tươi cười, mời khách ngồi xuống sàn nhà làm bằng ván đước đen nhánh: “Hơn 4 đời nhà tôi ở đây, ông nội ở nhà không cửa, cha mẹ tôi sinh cả chục anh em tôi cũng ở nhà không cửa. Tám đứa con tôi đã lập gia đình ra ở riêng cũng vậy, toàn nhà không cửa”.

Cơn gió nhẹ từ biển thổi vào, mát tận ruột gan, tôi cảm nhận rõ sự dễ chịu của những ngôi nhà không cửa nơi miền cuối đất này. Tuy nhiên, điều thú vị là tài sản của gia chủ từ trước ra sau, ti vi, tủ lạnh, xe máy, tủ quần áo...  phơi bày ra hết giữa ngôi nhà không cửa như sự cởi mở và phóng khoáng của con người nơi đây.

Từ nhà ông Tám Đá, men theo con đường đất nhỏ xíu dẫn xuống xóm nhà ôm hai bờ con lạch nhỏ nối liền ra bãi biển, chúng tôi không khỏi kinh ngạc với hàng chục ngôi nhà san sát nhau đều không cửa. Đứng từ bên ngoài nhìn vào có thể thấy xuyên qua xóm bên kia sông, gió lùa thông thống.

Anh Nguyễn Văn Ngọt nói vui: “Do nghèo quá, cất xong nhà rồi mà không có tiền làm cửa nên để vậy đó!”. Do nhà không cửa nên tôi dễ dàng nhận thấy nhà nào cũng có tivi, dàn máy karaoke, tủ lạnh… và đầy ắp tiếng cười. Tôi hỏi anh Ngọt nhà có xe máy không? Anh bảo nhà nào cũng có nhưng do đường vào xóm nước dâng lầy lội nên gửi hết ở những nhà người quen bên ngoài lộ nhựa.


< Nhà không cửa tiện lợi cho sinh hoạt và lao động của người dân Xóm Mũi...

“Nói là gửi nhưng chỉ để tạm ngoài sân thôi vì nhà người ta cũng không được rộng rãi lắm đâu”- anh Ngọt giải thích thêm. Tôi hỏi: “Để vậy luôn cả đêm à?”. Anh Ngọt đáp tỉnh rụi: “Nhằm nhò gì. Để cả tuần hay cả tháng cũng chẳng sao!”.

Theo nhiều người, do Đất Mũi chỉ có một con đường nên dù có muốn lấy trộm xe máy thì kẻ trộm cũng không có đường tẩu tán nên chẳng lo mất. Tuy nhiên, theo ông Trần Thanh Tùng, Trưởng ấp Xóm Mũi, đó chỉ là một phần nhỏ của lý do. Cái chính là do bà con ở đây không có tính tham lam.

“Nếu nói đường độc đạo không thể tẩu tán đồ gian là chưa chính xác vì nơi đây sông nước mênh mông và sát cửa biển, kẻ trộm hoàn toàn có thể mang đồ đi bằng đường thủy. Hơn nữa, những thứ dễ che giấu hơn như máy nổ, xe đạp, vật dụng trong nhà để trơ trơ ra đó mà có thấy ai bị mất đâu. Thậm chí chưa có ai kêu ca bị mất tiền, vàng…” - ông Tùng quả quyết.

Công an “thất nghiệp”

Ông Tùng cho biết từng làm công an ấp rồi đến trưởng ấp suốt 10 năm mà chưa ghi nhận một vụ trộm nào đáng kể. Nếu có thì chỉ có vài vụ giải quyết mấy đứa trẻ phá phách bắt trộm vài con tôm, con cá mà thôi.


< ... và cũng thân thiện, dễ gần như người dân Xóm Mũi.

Ngôi nhà sàn nơi cuối ấp là vựa tôm cá của ông Nguyễn Hoàng Phúc. Ông Phúc quê ở Bạc Liêu, xuống đây cưới vợ, lập nghiệp gần 20 năm. “Xứ này dễ kiếm sống và chẳng có trộm cắp gì hết”- ông Phúc nói rồi chỉ vào chiếc giường đặt cạnh lối đi: “Tui không làm phách đâu, lúc nào trong nhà cũng có vài chục đến hàng trăm triệu, đồng để trên đầu giường. Khách khứa mua bán vô ra nườm nượp nhưng chưa mất cắp đồng nào!”.

Ông Mã Công Toại, từng làm công an xã Đất Mũi, tâm đắc: “Mấy năm tui làm công an, không giải quyết vụ mất cắp nào. Gần đây, Khu Du lịch Đất Mũi hoạt động, có vài kẻ xấu từ nơi khác kéo đến kiếm chác nhưng không đối tượng nào thoát được. Bà con mình hay lắm, khi phát hiện thì giải quyết ngay, không cần đến công an”.

Cuộc đời làm công an của ông Toại có giải quyết duy nhất vụ “mất cắp”. Tết năm 2010, anh ngư dân trong làng tên Đen để xe máy trước nhà rồi đi ngủ, chìa khóa vẫn cắm trong ổ. Sáng ra, khi thức giấc, anh không thấy chiếc xe mới tá hỏa đi báo công an.

Không ngờ, mới thất thểu đi được 1 đoạn thì anh Đen đã thấy chiếc xe máy của mình ngay trước trung tâm chợ xã. Thấy lạ, vì lần đầu tiên trong đời nghe có người mất trộm xe máy nên người dân tự tổ chức điều tra, lần hỏi xung quanh. Khi hỏi đến anh Năm bán cà phê ở gần nhà lồng chợ Đất Mũi thì mới biết được nguyên nhân vụ việc.

< Ca-nô là phương tiện vận tải khách phổ biến ở Đất Mũi Cà Mau.

Anh Năm tỉnh bơ: “Trộm đạo gì, bữa ấy tao đi nhậu với mấy thằng bạn, say quá. Trên đường lội bộ về mỏi chân, thấy thằng cha nào đậu xe ngoài sân, để nguyên chìa khóa, tao leo lên đề máy, chạy về cho đỡ mỏi chân, rồi để xe ở ngoài chợ cho nó dễ tìm đấy mà”.

Đêm xuống, chúng tôi ngủ lại một nhà ngư dân nơi Xóm Mũi. Anh bạn đồng nghiệp ôm khư khư chiếc túi đồ nghề, trằn trọc không dám ngủ. Thấy vậy, bác Tám chủ nhà bảo: “Mấy chú cứ yên tâm mà ngủ đi, sáng ra có mất gì tôi đền cho”. Nghe vậy anh bạn tôi vứt túi đồ nghề sang một bên, đánh thẳng một giấc cho tới sáng.

Trước khi rời Xóm Mũi, tôi nói vui với ông Tùng trưởng ấp rằng: “Anh có sợ khi tôi viết bài đăng báo, những đạo chích ở nơi khác biết sẽ tìm đến, Xóm Mũi sẽ hết bình yên?”. Ông Tùng vui vẻ đáp: “Nhà báo cứ yên tâm. Chúng tôi chẳng lo gì. Bà con mình ở đây đoàn kết lắm. Chỉ cần nghe một nhà bị trộm thì cả xóm sẽ đuổi theo cho mà xem. Kẻ trộm dù có mọc cánh cũng khó thoát”.

Du lịch, GO! - Theo Duy Nhân (NLĐ), internet

Bí ẩn thành cổ Bản Phủ ở Cao Bằng

Xã Hưng Đạo (Hòa An - Cao Bằng) là vùng đất khá bằng phẳng, có những cánh đồng rộng mênh mông, ven con sông Bằng Giang thấm đẫm những dấu tích lịch sử của tiền nhân. Nơi đây đang lưu truyền một truyền thuyết nói về vùng đất cổ, đầy bí ẩn của một thời về An Dương Vương.
Từng có truyền thuyết được người dân kể lại rằng, ở vùng đất này xưa kia là nơi Thục Chế, bố của An Dương Vương xây dựng thành Bản Phủ ở Cao Bình. Truyền thuyết là niềm tự hào của biết bao thế hệ người dân nơi đây. Tuy nhiên, truyền thuyết được truyền lại cho rằng An Dương Vương đã "lập địa" ở Bản Phủ là sự thật. Còn những hiện vật để minh chứng cho vùng đất cổ mà người cha của An Dương Vương đã chọn để xây thành thì nay vẫn là điều vô cùng bí ẩn.

Truyền thuyết "Cẩu chủa cheng vùa"

Được biết, vùng đất Cao Bình xưa (Cao Bằng nay) nằm dọc theo hai bên bờ của dòng Bằng Giang, nơi trung tâm của bồn địa Hòa An, theo truyền thuyết vốn là kinh đô của nước Nam Cương thời Thục Phán, còn thế kỷ XVII là kinh thành của vương triều Nhà Mạc tồn tại ngót 80 năm.

Rất nhiều người dân xã Hưng Đạo (Hòa An - Cao Bằng) kể cho nhau một truyền thuyết xưa kia về vùng đất mà mình đang sống chính là nơi Thục Chế, cha đẻ của An Dương Vương đã từng sinh sống, đắp đất xây thành lũy để phòng thủ, bảo vệ dân làng trước giặc ngoại xâm.

Để tìm hiểu rõ thực hư truyền thuyết, chúng tôi đã có chuyến công tác rong ruổi hàng tuần tại vùng đất lưu nhiều dấu ấn lịch sử này. Gặp nhiều người cao tuổi họ chỉ biết nơi đây có một truyền thuyết về "Cẩu chủa cheng vùa" (Chín chúa tranh vua) nhưng cũng không rõ ngọn ngành của truyền thuyết ra sao.

Được chị Ngô Thị Cẩm Châu, Phó giám đốc Bảo tàng tỉnh Cao Bằng giới thiệu, chúng tôi tìm gặp ông Nguyễn Đức Hạnh- nguyên Phó Hiệu trưởng Trường Đảng tỉnh Cao Bằng, nay là Trường Chính trị tỉnh, là người thường xuyên cùng các cụ cao niên trong xã tổ chức các đợt khảo cổ tại địa phương.

Ông kể rằng, năm 1963, một tư liệu mới về An Dương Vương Thục Phán được công bố. Ðó là truyền thuyết "Cẩu chủa cheng vùa" (chín chúa tranh vua) của đồng bào Tày ở Cao Bằng. Theo truyền thuyết này thì Thục Phán là con của Thục Chế "vua" của "nước" Nam Cương ở vùng Cao Bằng, hiện nay, mà trung tâm là Hòa An (Cao Bằng).

Nam Cương gồm chín xứ Mường. Vào cuối đời Hùng Vương, Thục Chế mất, thọ 95 tuổi, con là Thục Phán hãy còn ít tuổi (10 tuổi). Chín chúa Mường kéo quân về bắt Thục Phán chia nhỏ đất ra cho các chúa cai quản và đòi nhường ngôi "vua". Thục Phán tuy ít tuổi nhưng rất thông minh, đã bày ra những cuộc đua sức, đua tài và giao hẹn ai thắng cuộc sẽ được nhường ngôi.

Thục Phán dùng mưu kế làm cho các chúa mất nhiều công sức, mà không ai thắng cuộc. Như tổ chức các cuộc thi bắn cung trúng lá đa khi lá rụng, dùng một cái lưỡi cày để làm ra 1.000 chiếc kim, Thục Phán còn dùng cả "mỹ nhân kế", cho 10 thiếu nữ xinh đẹp đi theo các người thi… Đến giờ Hợi nhưng tất cả các chúa vẫn chưa ai làm xong. Cuối cùng, các chúa không ai thắng được đã phải qui phục Thục Phán. Sau đó, "nước" Nam Cương trở nên cường thịnh.

Cuối những năm 60 lại xuất hiện thêm hai giả thuyết mới về nguồn gốc của Thục Phán. Tất cả những giả thuyết trên đây cho thấy nguồn gốc của Thục Phán và sự ra đời của nước Âu Lạc còn ẩn chứa nhiều bí ẩn. Nhưng xu hướng chung của các nhà nghiên cứu trong thời gian gần đây đều cho rằng quê hương của Thục Phán là ở vùng miền núi phía Bắc nước ta.

Vùng đất cổ?

Đang trò truyện với chúng tôi, ông Hạnh lục trong tủ mang ra một cuốn sách cổ có ghi lại rất nhiều trang sử của vùng. Ông cho biết, cư dân nước Văn Lang đời Hùng Vương chủ yếu là người Lạc Việt và bao gồm cả một bộ phận người Tây Âu (hay còn gọi là Âu Việt) ở miền núi rừng và trung du phía Bắc, hai thành phần đó sống xen kẽ với nhau trong nhiều vùng. Phía Bắc nước Văn Lang là địa bàn cư trú của người Tây Âu, cũng có những nhóm Lạc Việt sống xen kẽ.

Lạc Việt và Tây Âu là hai nhóm phía Nam của Bách Việt, sống gần gũi nhau và cư trú đan xen nhau trên lưu vực sông Hồng và Tây Giang. Vừa là đồng chủng, vừa là láng giềng, từ lâu người Lạc Việt và người Tây Âu đã có nhiều quan hệ mật thiết về kinh tế, văn hóa.

Ông Hạnh kể thêm, giữa người Lạc Việt và Tây Âu, cũng như giữa Hùng và Thục, đã có nhiều quan hệ gắn bó lâu đời. Huyền thoại Lạc Long Quân - Âu Cơ đã chứa đựng mối quan hệ giữa hai yếu tố Lạc và Âu trong cội nguồn xa xưa của các thành phần dân tộc ở Việt Nam. Nhiều thần tích và truyền thuyết về Hùng Vương và An Dương Vương coi Thục Phán là thuộc "dòng dõi", "tông phái", hoặc là "cháu ngoại" của vua Hùng.

Còn nói về lịch sử của vùng đất này thì ông Hạnh cho hay, tỉnh Cao Bằng đã được thành lập cách đây hơn 500 năm thì đã có 178 năm trung tâm kinh tế, chính trị, xã hội nằm ở Cao Bình, Hòa An ngày nay. Còn ở xóm Đà Quận, xã Hưng Đạo, huyện Hòa An có khả năng nơi này trước đây có một ông quan to dựng nhà cửa, sinh sống ở đây.

Nơi đây ở giữa cánh đồng Thiên Thanh có một vùng đất cao hẳn lên so với mặt ruộng, nơi này trước đây có chùa Viên Minh (nay là chùa Đà Quận). Chùa hiện còn lưu giữ chiếc chuông đồng cổ và đền thờ quan triều Dương Tự Minh. Dương Tự Minh là người Tày ở Thái Nguyên nhưng hai lần có công thắng quân Tống, cai quản cả phủ Phú Lương ngày xưa gồm: Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Tuyên Quang và một phần của Lạng Sơn và Vĩnh Phú…

Theo chị Ngô Thị Cẩm Châu, Phó Giám đốc Bảo tàng tỉnh Cao Bằng thì ở Cao Bằng qua khai quật khảo cổ, và một số phát hiện của địa phương trong quá trình xây dựng và sản xuất đã thu được một số hiện vật có giá trị về mặt lịch sử như: Đồ đá, đồ đồng, gốm, và đặc biệt mới đây nhất, trong quá trình dùng máy xúc đất người dân đã phát hiện một thanh đao cổ dài hơn 1m nhưng chưa rõ có từ thời nào? Thanh đao đó hiện đang được lưu giữ tại bảo tàng tỉnh.

Chị Châu cho biết thêm: "Trước đó tại Ngườm Vài, Cần Yên (Thông Nông - năm 2008) đã phát hiện di chỉ thời đại đồ đá cũ và công cụ chặt thô bằng đá rất nhiều, khoảng vài trăm hiện vật. Những phát hiện đó quả thực là thật đáng mừng".

Tuy nhiên, đến thời điểm này khi nói đến vùng đất mà An Dương Vương đã từng sinh sống thì theo các nhà khảo cổ học thì vẫn chưa phát hiện được một dấu tích nào của An Dương Vương ở vùng đất xã Hưng Đạo (Hòa An - Cao Bằng). Tất cả chỉ có trong truyền thuyết.

Khai quật

< Các hiện vật bằng sứ, gốm com men được phát hiện qua khai quật.

Trước những truyền thuyết chỉ là một phần để minh chứng cho vùng đất Cao Bằng vốn cho là cổ này. Một đoàn nghiên cứu của Viện Khảo cổ  học, Viện Khoa học xã hội Việt Nam do PGS.TS Trình Năng Chung làm trưởng đoàn đã tiến hành khai quật khảo cổ tại một số điểm di tích xung quanh thành bản phủ Cao Bình tại xã Hưng Đạo, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng.

Trong vòng một tuần, đoàn khảo cổ đã tiến hành khai quật tại 3 điểm, gồm Bản Phủ, Đà Quận và Bó Mạ. Tại Bản Phủ, ngay cạnh chợ Cao Bình, hố khai quật được xẻ ngang di tích của tường thành cũ, có lũy tre dày đặc và phía bên ngoài là hào sâu bao bọc, đây là bức thành được đắp bằng đất, vừa có giá trị phòng thủ quân sự, vừa có tác dụng ngăn lũ sông Bằng Giang, bảo vệ cho khu vực Bản Phủ.

Theo PGS.TS Trình Năng Chung thì mặt cắt của thành Bản Phủ là tường đất được đắp cao, ngay bên dưới là đường hào, người xưa đã lấy đất từ hào để đắp lên thành. Đoàn khảo cổ đào tương đối triệt để qua mặt cắt, trước hết để tìm xem kết cấu đất đắp thành. Hai là tìm trong thành có các di vật từ trong lớp đất nó nói lên điều gì. Và nghiên cứu tìm hiểu về tính chất cũng như niên đại của thành này.

Qua mặt cắt đoàn khảo cổ khai quật cho thấy về cơ bản thì có 7 lớp cơ bản, và hai lớp phụ ở phần trên là lớp mùn sau này, các lớp đất được phân biệt nhau bởi các màu sắc khác nhau. Qua nghiên cứu về các di vật, trong khi đào đoàn khảo cổ phát hiện được hàng trăm di vật, bao gồm đồ đá, đồ sành, gốm com men và sứ. Và ngoài ra cũng tìm được một số mẩu kim lại bằng sắt và đồng đã rỉ. Sự khác nhau giữa các di vật trong các tầng lớp hầu như không có, gần như là có sự tương tự giống nhau lớn. Điều đó nói lên cái thành này được đắp trong cùng một thời gian. Mặc dù các lớp đất có màu sắc khác nhau, nó phản ánh lớp đất nguyên thổ đầu tiên khi cư dân ở đây đắp đất lên.

Khi chúng tôi hỏi về niên đại của thành, thì PGS.TS Trình Năng Chung cho biết: "Chúng tôi đã nghiên cứu và xác định niên đại những di vật nằm trong địa tầng, phần lớn các hiện vật thu được cho thấy thành này được xây dựng từ thời Lê - Mạc. Đó là điều rất lý thú, qua mặt cắt của lớp địa tầng này, và qua các diễn biến của di vật các tầng lớp đất tìm thấy trong thành. Thì đây là thành hàm chứa rất nhiều giá trị văn hóa vùng này, đây cũng là câu trả lời cho những ai yêu thích và yêu mến lịch sử quê hương đất nước mình thì câu trả lời đó tôi nghĩ rằng trong tương lại gần thôi.

Sau đó đoàn khảo cổ đã tiến hành khảo cổ ở xóm Đà Quận, xã Hưng Đạo, bên cạnh là di tích lịch sử chùa Đà Quận, nơi đây con lưu giữ hai chiếc chuông đồng thời cổ rất lớn. Đoàn khai quật mới chỉ đào một hố nhỏ sâu khoảng 20cm trong vườn nhà dân, dài chừng 3m nhưng đã phát hiện nhiều hiện vật nằm dày đặc, chủ yếu là các loại vật liệu xây dựng, kiến trúc như gạch, ngói bằng đất nung, chứng tỏ đây là chứng tích của một công trình cổ có từ thời Lê.

< Chuông cổ tại khu vực thành Bản Phủ.

Là trưởng đoàn khảo cổ, PGS.TS Trình Năng Chung nhận định: "Qua kết quả khảo sát ban đầu, chúng tôi thấy đây là một di tích kiến trúc rất quan trọng, nó phản ánh một giai đoạn lịch sử của vùng đất Cao Bằng.  Gặp PGS.TS tại Viện Khảo cổ, ông đưa ra một số hình ảnh thu được trong chuyến khảo cổ đó. Chỉ vào hiện vật bằng đất nung, có hình dáng giống như đầu rồng PGS cho biết: "Những mảnh trang trí này thường người ta gắn vào kiến trúc mà giới thượng lưu trong quý tộc, trong xã hội mới được sử dụng. Đó là mảng trang trí mà hình tượng là con rồng, có mắt, tay, nhưng không còn nguyên vẹn, bị vỡ. Do vậy nhìn vào những trang trí của hiện vật thì ta biết rằng đây là những hiện vật có từ thời Lê".

Những chứng tích lịch sử

Có mặt tại thôn Đà Quận để tìm hiểu về những chứng tích lịch sử của vùng đất cổ này. Nhìn vào vị trí của khu kiến trúc cổ đã được khai quật, PGS.TS Trình Năng Chung cho hay: "Chủ của khu này chiếm vị trí rất lớn trong xã hội đương thời. Với biểu trượng là con rồng thì ta biết rằng chủ nhân của khu di tích này cũng có thể là người đứng ở vị trí quan lại lớn trong triều hoặc là người đứng đầu ở khu vực này".

Cũng trong đợt khảo cổ để tìm dấu tích của một thời đại Kim Khí An Dương Vương đã từng xây thành, lập chốt ở Cao Bằng, đoàn khảo cổ đã tiến hành khảo sát bãi đá sỏi lộ thiên tại làng Bó Mạ, xã Hưng Đạo, qua khảo sát các nhà khảo cổ phát hiện, ở bến sông ăn ngầm sâu vào trong bờ có công cụ bằng đá thô sơ, chứng tỏ thời tiền sử đã từng sinh sống ở đây. Đó là những công cụ bằng đá mà người nguyên thủy ghè một đầu  để làm chỗ cầm, dìu đá. Làm tay cầm để thao tác, tác động vào chặt cây hay con thú. Con người đã sớm sinh sống ở khu vực này mà nơi cư trú chính là những gò đất cao dọc theo bờ sông Bằng Giang. Theo PGS Trình Năng Chung đây là phát hiện có tầm quan trọng về mặt khoa học lịch sử và khảo cổ không chỉ riêng cho Cao Bằng.

Trong vòng một tuần, đoàn khảo cổ do PGS.TS Trình Năng Chung làm trưởng đoàn, với tinh thần làm việc khẩn trương, nghiêm túc đoàn đã phát hiện được nhiều hiện vật, di chỉ khảo cổ có giá trị về nhiều mặt. Qua kết quả của cuộc khảo sát khảo cổ học đã thu lại một số tiền thức như sau: Đây là lần thứ hai Cao Bằng phát hiện được di tích đá cũ mà cũng là lần đầu tiên trên thềm sông cổ, sông Bằng Giang là tìm thấy dấu tích con người thời nguyên thủy, đó là cái nhận thức rất mới, và cái nhận thức tiếp theo là cái di tích thành Bản Phủ, qua đào khảo sát càng thấy rõ hơn giá trị lịch sử, văn hóa, và vị thế của thành Bản Phủ trong lịch sử của vùng đất Cao Bằng nói riêng và Việt Nam nói chung. Và cái nhận thức nữa là trên vùng đất Hưng Đạo, thấm đẫm dấu tích của lịch sử tiền nhân, cụ thể là ở trong đợt này phát hiện được một loạt dấu tích kiến trúc, trong đó có dấu tích kiến trúc ở Đà Quận và khu đồng Thiên Thanh, ở xóm Bản Phủ.

Qua dấu tích kiến trúc ta biết được về lịch sử văn hóa của người thời cổ có giá trị rất lớn về mặt văn hóa cũng như về mặt lich sử, cũng nói lên vị thế của vùng đất Hòa An trong lịch sử Cao Bằng. Cái nổi trội hơn cả là qua đợt khảo cổ nghiên cứu cho thấy vùng đất Cao Bằng là vùng đất cổ có bề dầy về văn hoá lịch sử rất lâu đời. Ít ra đã có từ hàng vạn năm về trước. Nhưng liệu nơi đây có phải là nơi An Dương Vương sinh sống, nuôi quân đánh giặc hay không thì đến nay vẫn chưa có dấu tích nào để khẳng định điều này.

Đi tìm dấu ấn vùng đất cổ

PGS.TS Trình Năng Chung cho biết: "Qua khảo sát, quan sát địa tầng và các hiện vật thu được chúng tôi cố gắng liên hệ giữa thành Bản Phủ với thời đại kim khí lớn, thời đại của An Dương Vương, cho đến bây giờ kết quả phân tích các mẫu vật lấy được trong thành và phân tích mẫu đất để có câu trả lời về mặt niên đại. Chúng tôi cũng rất mong muốn sẽ có sự hòa hợp giữa truyền thuyết và chứng tích khảo cổ học. Nhưng hầu hết các hiện vật trong chuyến khảo cổ cuối năm 2010 thu được chủ yếu là các hiện vật có từ thời Lê - Mạc. Và một số hiện vật có từ thời tiền sử, đồ đá cũ".

Dựa vào rất nhiều chuyến khảo cổ của mình, PGS.TS Trình Năng Chung tập hợp lại và suy luận rằng. Trên Lào Cai cũng là một vùng đất cổ, ở đó đã phát hiện có văn hóa đồ đồng, nhiều di vật đồng dọc sông Hồng, có làng mạc ven sông Hồng. Còn ở Cao Bằng là mục tiêu hàng chục năm nay ông đi tìm di chỉ đồ đồng, tuy nhiên đồ đồng cực kỳ hiếm, hiện nay ở Bảo tàng tỉnh Cao Bằng chỉ lưu giữ được 4 chiếc rìu đồng.

Khi chúng tôi hỏi về truyền thuyết thành Bản Phủ, PGS.TS Trình Năng Chung cho hay, thành Bản Phủ được truyền thuyết khoác vào đó là Thục Chế - bố của An Dương Vương xây dựng. Tuy nhiên, vào năm 2007 ông lên Cao Bằng khảo sát thì nhận thấy thành đó có hình vuông, theo báo cáo của các cụ trong xã Hưng Đạo thì thành Bản Phủ cũng là hình vuông.

Về tư duy lô gíc thì đây là thành vuông, thành sau này, thành cổ xưa thì cả cái xóm nằm trên vùng đất bằng, nếu như thành Cổ Loa ngày xưa xây theo chân đồi, chỗ cong thì xây cong, thẳng thì xây thẳng, về mặt lô gíc nếu thành Bản Phủ có từ thời An Dương Vương thì không thể có hình vuông vức được. "Thành ngày xưa được xây để ngăn quân thù, ngày xưa xây quanh theo quả đồi, sau hình học ra đời thì người ta mới xây theo hình vuông" - PGS Chung cho hay.

PGS TS Trình Năng Chung cũng khẳng định rằng: "Thế mạnh của dân khảo cổ học là khai quật, di tích, di vật. Đó là sử liệu, bằng vật chứng cụ thể dưới lòng đất, muốn chứng minh thành Bản Phủ là của An Dương Vương Thục Phán thì phải khai quật như khai quật thành Cổ Loa ở Đông Anh vậy. nhưng làm như thế rất tốn kém về thời gian, vật lực và nhân lực. Về nguyên tắc xây thành bao giờ cũng đào bên trong hất đất ra, chỗ đất được đào sẽ thành một hào rồi đóng chông ngăn quân thù tại hào đó.


< Một trong hai chiếc chuông cổ tại chùa Đà Quận.

Tại Bản Phủ có phát hiện xung quanh thành có hào, hiện vẫn có từng đoạn, một số chỗ là những cái mương rất to, về nguyên tắc thì lớp đất cuối cùng sẽ được đổ lên trên, thì những hiện vật đó được đổ lên trên, đào sâu xuống lớp đất đó thì đây là lớp đất nguyên thổ, nếu thành được xây từ thế kỷ bao nhiêu thì lớp đất nó nói lên tất cả, nào là ngói, gốm sứ, bát đĩa vỡ đều ở thế kỷ XVI và XVII như vậy kết luận thành mà chúng tôi khai quật vào cuối năm 2010 được xây vào vào thời Lê".

Bí ẩn?

Cũng nhằm tìm ra những di tích, di chỉ để minh chứng vùng đất Hưng Đạo (Hòa An) là vùng đất cổ, Hội di sản xã Hưng Đạo do các cụ cao niên trong xóm xã lập ra để nghiên cứu nhưng không tìm thấy dấu vết của An Dương Vương.

Ngoài ra PGS.TS Trình Năng Chung đã đưa ra một so sánh để minh chứng vùng đất Hòa An không phải có từ thời An Dương Vương. Nếu như ở Cổ Loa ta thấy rất nhiều dấu tích, câu ca, vè, ký ức nhưng ở Hòa An (Cao Bằng) không để lại một tý gì về An Dương Vương, trong huyện Hòa An không có một đền thờ An Dương Vương nào, nhưng ở Cổ Loa và vùng lân cận thì rất nhiều, kể cả hiện vật cũng phát hiện rất nhiều. Về khảo cổ học, nếu như ở Cổ Loa người ta phát hiện rất nhiều di chỉ khảo cổ của cư dân thời đại An Dương Vương thời xưa, rất nhiều nhà đào giếng có, xây dựng có phát hiện đồ gốm chứ ở Cao Bằng không có.

Nếu như tìm thấy một thứ gì đó ở Hòa An thì đó là một phát hiện rất lớn, tuy ở Cao Bằng có phát hiện một số hiện vật bằng gốm nhưng gốm thời An Dương Vương nó khô cứng, không có men, độ cứng kém, đó là những bài toán chưa có lời giải ở Cao Bằng. Liệu khu vực thành Bản Phủ có phải là trung tâm không?

Thực tế qua các chuyến khảo cổ PGS.TS Trình Năng Chung cho biết: "Lào Cai có giáo, mác, có làng cư trú ven sông Hồng, ở Cao Bằng bà con đi đào vàng phát hiện 4 cái dìu đồng, giai đoạn đồ đồng của An Dương Vương rất mờ nhạt ở Cao Bằng, bản thân tôi muốn làm sáng tỏ cái đầu tiên, sơ khai của những cư dân thời dựng nước đầu tiên ở Cao Bằng thì không có hiện vật để chứng minh".


< PGS.TS Trình Năng Chung, ông Nguyễn Đức Hạnh.

Cũng có thể vào thế kỷ XVI, XVII Hòa An là trung tâm kinh tế, chính trị, xã hội của cả khu vực, ở đó có sông Bằng Giang tạo nên phù sa cho cánh đồng lúa tốt, vùng khác do địa hình miền núi không có ruộng, và cả về xây dựng nhà cửa cũng không thể xây dựng kiến trúc như ở Đà Quận được, họ chỉ làm nhà sàn, như vậy nghiễm nhiên Đà Quận trở thành trung tâm.

Như vậy đến nay chưa có chứng tích, nói vùng này từ xưa do An Dương Vương làm chủ. Tuy chưa có gì để khẳng định thành Bản Phủ có từ thời An Dương Vương nhưng về vấn đề bảo tồn, qua đợt khảo sát ở Hưng Đạo đã thấy rất nhiều di tích. Những lớp cổ từ thời tiền sử cho đến lịch sử thì rất nhiều và chúng ta biết rằng qua một số nơi đào khảo sát cho thấy rằng cần phải có đầu tư về thời gian, về vật lực và cả kinh phí nữa cho các cuộc khai quật hoặc cho các cuộc nghiên cứu nó sâu rộng hơn để tìm được cái trầm tích, văn hóa, lịch sử của khu vực này, di tích ở xóm Đà Quận là di tích lớn còn nhiều bí ẩn còn đang ẩn chứa dưới lòng đất.

Du lịch, GO! - Theo Văn Hoàng (Langtoday), ảnh internet

Về thăm đảo Hà Nam, Quảng Ninh

Đến thị xã Quảng Yên, vượt qua cây cầu sông Chanh, bạn đã đặt chân lên vùng đất đảo Hà Nam.

Đây không chỉ được đánh giá là vùng đất giàu tiềm năng du lịch mà còn là nơi bảo tồn khá nguyên vẹn nét văn hoá, tín ngưỡng của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ.

< Vựa lúa Hà Nam.

Người Yên Hưng, Quảng Ninh trào lộng bảo vùng đất trũng âm khoảng hai mét dưới mực nước biển - đảo Hà Nam - là đất “Đế vương” bởi bao bọc cả bốn bề đảo là đê sông, đê biển. “Đế vương” là nói lái của cụm từ... 'vướng đê' mà ra.

< 34 km đê bao bọc lấy đảo Hà Nam.

Chuyện xưa kể rằng vào năm 1434, có 17 người phiêu dạt từ phủ Hoài Đức thành Thăng Long tìm đến một “đượng đất” vùng cửa sông Bạch Đằng, quai đê lấn biển lập ra xứ Bồng Lưu nay là đảo Hà Nam, huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Ninh.

Từ một cù lao lau sậy của gần 600 năm về trước, Hà Nam giờ có 8 xã với chừng 6,5 vạn dân và 34 km đê biển. Nếu cứ men theo đê mà đi một vòng quanh đảo mới thấy hết công sức lớn lao của tiền nhân đã bỏ ra cho vùng đất này, Hà Nam trù phú tốt tươi dọc ngang kênh rạch là vùng đất nằm âm hai mét dưới mực nước biển.

< Phong cảnh ở Hà Nam rất gần với miền sông nước Nam bộ.

Khi đến đây, du khách sẽ được tận hưởng không khí trong lành, mát mẻ của thiên nhiên bao la, dạo bộ hai bên đường là những rặng dừa xanh mát. Nơi đây, không chỉ có phong cảnh thiên nhiên tươi đẹp, đặc biệt hơn nữa là từ bao đời nay, vùng đất đảo Hà Nam này vẫn còn tồn tại, lưu giữ một làng nghề truyền thống với nghề đan ngư cụ nổi tiếng được gọi tên là làng nghề Hưng Học (Nam Hoà).

Bây giờ, làng nghề không còn sầm uất, nhộn nhịp tấp nập như xưa nhưng nghề đan ngư cụ vẫn nuôi sống rất nhiều hộ gia đình nông thôn. Tại đây, du khách có thể cảm nhận được hồn quê qua đôi bàn tay khéo léo của người thợ thủ công.

Từ những cây tre, cây nứa quen thuộc, họ đã chế tác ra những sản phẩm là những chiếc lờ, chiếc đó, thuyền nan và rất nhiều những sản phẩm ngư cụ đánh bắt hải sản truyền thống khác. Những sản phẩm này không chỉ phục vụ ngư dân trên đảo mà còn được đưa đi bán ở rất nhiều nơi trong tỉnh và đến cả các tỉnh lân cận.

Qua làng nghề Hưng Học, du khách có thể đến thăm một số di tích lịch sử nổi tiếng, trong đó có Bãi cọc Bạch Đằng ghi lại chiến công của nhà thiên tài quân sự, anh hùng dân tộc Trần Quốc Tuấn ở thế kỷ XIII.

Ngoài ra, du khách còn có thể đến thăm các ngôi chùa, đình, từ đường với những kiến trúc văn hoá độc đáo cùng với nhiều phong tục tập quán truyền thống sinh hoạt, sản xuất của bà con nơi đây. Được biết, khu vực đảo Hà Nam này là nơi có cộng đồng dân cư sinh sống lâu đời với khoảng 20 ngôi đình, chùa và 80 từ đường dòng họ.

Lễ hội được tổ chức dàn trải trong năm nhưng tập trung nhiều nhất vẫn là tháng Giêng. Hàng năm cứ mỗi độ xuân về, đến đảo Hà Nam, du khách lại được hoà mình vào các lễ hội truyền thống. Đặc biệt là lễ hội Tiên Công (mùng 6, 7 tháng Giêng).

Lễ hội Tiên Công gắn liền với di tích lịch sử Miếu Tiên Công thờ 19 vị Tiên Công - Những người có công đầu trong việc quai đê lấn biển, lập nên đảo Hà Nam trù phú, làng xóm đông vui như ngày nay. Truyền thuyết kể lại rằng ngày mở hội chính là ngày các vị Tiên Công tìm ra mạch nước ngọt trên đảo cách đây trên 500 năm…

Cùng với lễ hội Tiên Công, vào tháng Giêng, đảo Hà Nam còn có khá nhiều các lễ hội độc đáo khác, như: Lễ đại kỳ phước của các làng xã (ngày 15 tháng Giêng); Lễ hội Bạch Đằng (mùng 6, 7, 8 tháng ba âm lịch); Lễ hội xuống đồng (vào dịp đầu tháng 6 âm lịch) v.v..

Bên cạnh những lễ hội văn hoá độc đáo, du khách còn được thưởng thức một không gian văn hoá đa màu sắc thông qua những làn điệu dân ca mang đậm sắc thái địa phương như: Hát chèo, hát đúm, hát giao duyên. Không chỉ có vậy, du khách còn được thưởng thức ẩm thực qua những món ăn mang đậm hồn quê như: Bánh dày, bánh gio vùng đảo Hà Nam...

< Những cánh rừng ngập mặn ngoài đê là nơi nuôi tôm cá.

Nếu có dịp đến TX Quảng Yên, mời bạn nhớ ghé thăm đảo Hà Nam để thưởng thức một không gian văn hoá đặc sắc, với những nét riêng có của một vùng đất vẫn còn mang đậm dấu ấn văn hoá của người Việt.

Du lịch, GO! - Theo Tindulich, Dantri, internet

Hồ Bờ Tân – Thắng cảnh đẹp của Bắc Giang

Từ TP Bắc Giang đi Hà Nội trên Quốc lộ AH1, đến ngã tư Song Khê-Nội Hoàng rẽ trái đi trên trục đường 298, đường đi thị trấn Neo huyện Yên Dũng khoảng chừng 10 km, hiện lên trước mắt chúng ta một màu xanh huyền bí của dãy núi Nham Biền. Những ngọn núi nhấp nhô, xen giữa những cánh đồng lúa tốt tươi cùng những nếp nhà thấp thoáng nằm nép phía bên sườn núi, tạo lên một không gian hết sức sống động.

Men theo đường làng đi thêm khoảng gần 2km là đến thôn Bình An xã Tiền Phong huyện Yên Dũng ta bắt gặp một hồ nước mênh mông rộng khoảng chừng 6 heta, nằm ẩn bên chân dãy núi Phượng Hoàng hùng vĩ, cảnh vật nơi đây thật là ngoạn mục, ngước lên phía trên là những cánh rừng Thông trùng trùng, điệp điệp.

Phóng tầm mắt ra xa là cả một màu xanh rộng khắp của những cánh rừng nguyên sinh, tái sinh được dòng nước sông Thương quanh năm tắm mát, hồ nằm kế bên sườn núi nên nước hồ có một màu xanh thăm thẳm, mặt hồ luôn phẳng lặng bởi được các ngọn núi chở che, bao bọc, tựa như chiếc gương khổng lồ luôn in hình, soi bóng những rặng cây.

Nơi đây thực sự là chốn thiên đường của các loài chim, cứ mỗi khi chiều tà từng đàn chim các loại lũ lượt  trở về quây quần díu dít bận rộn bên tổ ấm gia đình, hồ có diện tích tuy không lớn nhưng nằm trên địa thế vô cùng hấp dẫn, bởi bốn bề là mây, là núi, xung quanh là những rừng cây xum xuê rậm rạp nhiều nơi chưa in dấu  chân người, đi ngược lên phía trên, nhiều đoạn dốc quanh co, uốn lượn vòng quanh tới tận đỉnh núi, nhiệt độ trung bình giữa mùa hè ở đây là khoảng 25-28%c rất thoáng mát, thích hợp cho việc nghỉ dưỡng sinh thái.

Hồ Bờ Tân tuy chưa phải là điểm du lịch nổi trội, hấp dẫn nhất tỉnh, song điểm du lịch nghỉ dưỡng sinh thái Hồ Bờ Tân sẽ là cửa ngõ đón khách và là nơi dừng chân trong vòng cung khép kín giữa các điểm du lịch sinh thái gắn với tâm linh của huyện Yên Dũng. Từ đây đi tiếp khoảng 3km là tới chùa Kem (Sùng Nham Tự) được xây dựng vào năm Đinh Tỵ 1557, cũng trên chặng đường này đi tiếp theo là đến Thiền viện Phượng Hoàng.

Đây là một công trình lớn đang được khởi công xây dựng với quy mô hiện đại, hoành tráng, được toạ lạc trên núi Cô Tiên nhìn về ngã ba lục đầu giang nơi đầu của sáu con sông hội tụ, phía bên cạnh núi Côn Sơn, Kiếp bạc suôi  dòng hành trình về Yên Tử quảng Ninh, kế bên dãy Nham Biền có chùa Vĩnh Nghiêm đây là chốn tổ của phái trúc lâm, chùa dựa lưng vào núi Cô Tiên kế bên sông Lục do vua Trần Nhân Tông sáng lập vào thế kỷ thứ XIII.

Nếu có được sự đầu tư đúng đắn tiếp theo vào các hạng mục, công trình của khu vực hồ Bờ Tân thì điểm du lịch này sẽ trở lên hết sức hấp dẫn. Đây sẽ là công trình  hết sức quan trọng trong chương trình phát triển du lịch của Huyện Yên Dũng nói riêng và của tỉnh Bắc Giang nói chung vì đây sẽ là điểm khởi đầu và kết thúc cho một hành trình tham quan, du lịch Yên Dũng theo tour Bắc Giang-Yên Dũng từ 1 đến 2 ngày; Hà Nội-Bắc Giang-Yên Dũng từ 2 đến 3 ngày và các tour, tuyến khác kết nối với các địa phương trong tỉnh.

Du lịch, GO! - Theo Tin Tức Du Lịch, internet

Phượt qua miền Tây Bắc, ghé Thủy điện Sơn La

Một 'công trình thế kỷ' mới khánh thành, đang vẫy gọi du khách lên với Tây Bắc hôm nay là Đập thủy điện Sơn La trên địa phận xã Ít Ong, huyện Mường La, tỉnh Sơn La.

Vào dịp nghỉ Tết dương lịch này, khách du lịch lên Tây Bắc khá nhiều. Dân phượt lại có dịp “Tây tiến” qua những địa danh quen thuộc như: Đèo Đá Trắng, thung lũng Mai Châu, cao nguyên Mộc Châu, sân bay Nà Sản, thị trấn Yên Châu, ngã ba Cò Nòi, thị trấn Ít Ong-Mường La, đập thủy điện Sơn La hay xa hơn nữa, về với lòng chảo Điện Biên, Mường Thanh, Nghĩa Lộ…

< Dân “phượt” với đèo Đá Trắng (Hòa Bình).

Giữa những ngày giá rét căm căm mà lòng vẫn hát:
“Qua miền Tây Bắc núi vút ngàn trùng xa
Suối sâu đèo cao, bao khó khăn vượt qua…”

Địa hình Tây Bắc hiểm trở, có nhiều khối núi và dãy núi cao chạy theo hướng Tây Bắc-Đông Nam. Dãy Hoàng Liên Sơn dài tới 180 km, rộng 30 km, với một số đỉnh núi cao trên từ 2800 đến 3000 m. Dãy núi Sông Mã dài 500 km, có những đỉnh cao trên 1800 m.

< Cầu Tạ Khoa và sông Đà đoạn qua huyện Bắc Yên (Sơn La).

Giữa hai dãy núi này là vùng đồi núi thấp của lưu vực sông Đà (còn gọi là địa máng sông Đà) tạo nên những cao nguyên thơ mộng và thung lũng yên bình. Ngoài Đà giang là sông lớn, Tây Bắc còn nhiều sông nhỏ và suối, bao gồm cả thượng lưu sông Mã.

Tây Bắc có khoảng 20 dân tộc sinh sống như Mường, Thái, Dao, Nùng, H'Mông... Trong đó, Thái là dân tộc đông dân nhất và có thể nói, Tây Bắc là không gian của văn hóa Thái với điệu múa xòe hoa nổi tiếng. Ai qua Tây Bắc khó có thể quên hình ảnh những thiếu nữ Thái da trắng mịn, xúng xính trong bộ váy áo và khăn piêu đội đầu…

Lễ khánh thành công trình Nhà máy Thủy điện Sơn La hồi 23.12.2013 đánh dấu một quá trình gần thập kỷ dồn tâm, dồn lực xây dựng nhà máy và di dân tái định cư. Đập thủy điện Sơn La là “bậc thang thứ hai” của hệ thống 3 đập thủy điện trên sông Đà và cũng là công trình thủy điện có công suất lớn nhất khu vực Đông Nam Á.

Từ TP. Sơn La, để đến được với Nhà máy Thủy điện Sơn La phải vượt qua con dốc Cao Pha lừng lững như dải lụa lớn vắt ngang những sườn núi dưới nắng ấm của ngày mùa đông. Với tiếng Thái, Cao Pha nghĩa là dốc Trời. Trước khi xây dựng Nhà máy Thuỷ điện Sơn La, con dốc dài vài cây số này từng là nỗi khiếp sợ của những tay lái qua đây bởi độ gấp khúc, độ dốc, đường hẹp và lởm chởm ổ gà, ổ trâu.

< Toàn cảnh hạ lưu đập thủy điện Sơn La.

Ngày nay, con dốc đã được hạ bớt độ cao, mở rộng nền đường và trải thảm bê tông êm ái như lời chào mời, giới thiệu đầu tiên với du khách về tầm vóc của công trình Thuỷ điện Sơn La và những đóng góp lớn lao của công trình với sự phát triển kinh tế-xã hội của địa phương.

Nhưng dốc Cao Pha hôm nay chỉ là một trong những mảnh ghép làm nên sự kỳ vĩ của công trình Thuỷ điện Sơn La. Trên dòng Đà Giang, con đập ngăn nước của nhà máy nối hai bờ sông Đà sừng sững như bức trường thành với các cửa xả đang tung dòng bọt nước trắng xoá.

Nhà máy thủy điện Sơn La được khởi công xây dựng ngày 02/12/2005 và khánh thành vào ngày 23.12.2012, sớm hơn tiến độ kế hoạch 3 năm. Thủy điện Sơn La là công trình trọng điểm quốc gia với công suất lắp đặt 2400 MW, gồm 6 tổ máy, mỗi tổ máy 400MW. Sản lượng điện bình quân hàng năm trên 10 tỷ kWh, bằng 1/10 sản lượng điện của Việt Nam năm 2012.

< Cửa xả lũ của đập.

Đập thủy điện với cao độ đỉnh đập 228,1 m, dài 961,6 m, chiều rộng đáy đập 105 m, chiều rộng đỉnh đập 10 m. Hồ chứa nước có diện tích 224 km², dung tích 9,26 tỉ mét khối nước, thuộc một số xã, huyện của các tỉnh Sơn La, Điện Biên và Lai Châu.

Ngoài nhiệm vụ chính thì thủy điện Sơn La sẽ chống lũ về mùa mưa, cung cấp nước về mua khô cho đồng bằng Bắc Bộ và góp phần phát triển kinh tế - xã hội vùng Tây Bắc. Với dung tích hữu dụng gần 6 tỷ m³, thủy điện Sơn La sẽ góp phần quan trọng điều tiết dòng chảy khu vực hạ lưu, giúp chúng ta hoàn toàn chủ động trong việc cung cấp nước tưới cho khu vực đồng bằng, trung du Bắc Bộ trong vụ đông xuân, nhất là các tỉnh đồng bằng sông Hồng.

< Tham quan 6 tổ máy.

Đặt chân lên bề mặt thân đập Nhà máy Thuỷ điện Sơn La, giữa lồng lộng mây ngàn, gió núi, mênh mang sóng nước sông Đà, chợt nhớ lại những tháng ngày khởi công xây dựng nhà máy với bao vất vả, lo toan, bộn bề công việc.

Trên lưng chừng núi tả ngạn sông Đà, ngay trên nhà máy thuỷ điện, Đài tưởng niệm công trình Thuỷ điện Sơn La cũng đang bước vào hoàn thiện, vươn mình hiên ngang bên núi đá cao. Đó là nơi ghi công những con người đã đóng góp toàn bộ tâm sức của mình cho công trình Thuỷ điện thế kỷ Sơn La, góp phần trí tuệ, máu thịt của mình làm nên bản hùng ca trên dòng Đà Giang.

Du lịch, GO! - Tổng hợp từ Dân Việt