Hiển thị các bài đăng có nhãn Núi. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Núi. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 8 tháng 1, 2013

Chinh phục những đỉnh cao

Khi Phanxipăng đã trở thành một điểm đến phổ thông, thì xu hướng đi tìm kiếm những đỉnh cao mới nhen nhóm trong lòng dân đi. Nhiều cung đường mới được phát hiện, hình thành và chinh phục, đem lại nhiều ấn tượng và sự thỏa mãn cho những người leo núi, đi rừng không chuyên.

“Chúng tôi đã lên đỉnh Pu Ta Leng”

Là người say mê “vùng cao”, Body Party (tên - nickname dân du lịch sử dụng trên các diễn đàn mạng) từng chinh phục Phanxipăng (Lào Cai) nhiều lần theo những cung đường mới và đã đặt chân lên đỉnh Phu Song Sung (Yên Bái) cao xấp xỉ 3.000m. Mới đây nhất, Body cùng với Soi7x và Bazo là những người đầu tiên có mặt trên đỉnh Pu Ta Leng (Lai Châu) cao gần 3.100m, đỉnh núi được coi là nóc nhà thứ hai của Việt Nam.

Ngồi với Body, những câu chuyện kể về đêm trăng sáng ngồi trên mây trắng Tà Xùa (Yên Bái) nhóm lửa và uống rượu cùng đồng đội với những kỷ niệm phiêu diêu, huyền hoặc đã in vào ký ức... như không bao giờ dứt.

Có thể nói khi phong trào đi du lịch bằng xe máy đang trở nên quá phổ biến với các bạn trẻ, thì việc tìm cho mình một đam mê qua những hành trình chinh phục đỉnh cao đã tạo một góc nhìn mới cho dân đi. Các chuyến đi đều mang tính tự túc, tự mở cung và tự tổ chức, người đi sau học kinh nghiệm của người đi trước.

Hiện ở Hà Nội, thỉnh thoảng lại có một nhóm tổ chức leo núi Hàm Lợn (Sóc Sơn, Hà Nội), Tam Đảo (Vĩnh Phúc), Tây Yên Tử (Bắc Giang) vào dịp cuối tuần. Ở miền Trung, một số điểm đến hay được các bạn trẻ lựa chọn như núi Hòn Bà (Nha Trang), Sơn Trà (Đà Nẵng), Bạch Mã (Thừa Thiên - Huế).

Tuy nhiên, ở miền Nam, do điều kiện địa hình không phong phú như miền núi phía Bắc nên không có nhiều “đỉnh cao” để lựa chọn. Tây nguyên có dãy Trường Sơn hùng vĩ nhưng cũng chưa được dân đi khai phá.

Khai phá những đỉnh cao

Do đặc điểm địa hình cũng như phong trào còn non trẻ, các cung leo núi, băng rừng ở miền Trung và miền Nam chưa thật sự hiểm hóc như vùng núi phía Bắc. Công tác tổ chức thực hiện dễ dàng hơn do cung ngắn, độ khó trung bình, thời gian ít. Ngược lại, một vài nhóm có kinh nghiệm ở Hà Nội thường mày mò tổ chức một nhóm đi nhỏ với cung đường hiểm trở, mất nhiều công sức và đôi khi không thành công.

Trước kia, khi phong trào đi tìm “chấm” (*) còn mạnh, việc chinh phục những “chấm” khó ở Hàm Yên (Tuyên Quang), Mường Sai (Sông Mã, Sơn La) hay Khau Cọ (Văn Bàn, Lào Cai) cũng hay cuốn dân đi vào những hành trình leo núi băng rừng không đoán trước được kết quả. Trong năm 2011-2012, đỉnh Pù Luông (Thanh Hóa), đỉnh Phu Song Sung (Yên Bái) và gần đây là đỉnh Pu Ta Leng đã trở thành những đích đến hấp dẫn nhất của dân leo núi đi rừng không chuyên. Đã có nhiều chuyến đi tiền trạm, khám phá và thất bại. Nhóm sau rút kinh nghiệm của nhóm trước, cuối cùng cũng đến lúc tìm ra con đường đến đích cho những người trẻ đam mê khám phá và chinh phục.

Tổ chức leo núi thường phức tạp, phải tìm kiếm bản đồ địa hình tỉ lệ lớn, hiểu biết cách thức đọc bản đồ, phân tích được địa hình và quyết định lộ trình sao cho hợp lý về mặt sức khỏe và thời gian, cũng như phải tính toán được sự hỗ trợ từ cư dân bản địa với chuyến đi. Bản thân sự chuẩn bị cho chuyến đi một cách kỹ lưỡng, những trao đổi mang tính kiến thức được chia sẻ trên nhiều diễn đàn đã mang lại nhiều câu chuyện thú vị, giúp nhiều nhóm đi thành công.

Những đỉnh cao châu Á

Nếu những lộ trình chinh phục đỉnh cao ở trong nước mang tính chủ động và độc lập cao, hầu như không do một công ty lữ hành hay hiệp hội nào tổ chức, dân đi muốn leo núi ở ngoài biên giới lại phải tự tìm kiếm thông tin trên mạng và qua kinh nghiệm của những người đi trước để có thể đặt dịch vụ cho một chuyến đi với chi phí hợp lý. Những ngọn núi ở châu Á phù hợp về chi phí và thời gian với dân “bụi” hay được lựa chọn là đỉnh Kinabalu cao nhất Đông Nam Á (Malaysia), núi Phú Sĩ (Nhật Bản), các cung đường ở vùng nóc nhà thế giới Tây Tạng, Nepal, các đỉnh núi lửa Pinatubo, Taal ở Philippines, núi lửa Semeru (đảo Java, Indonesia)...

Đặc điểm của các chuyến đi này là đều có dịch vụ du lịch do người bản địa cung cấp, du khách chỉ cần tìm hiểu kỹ cung đường và giá cả để đảm bảo phù hợp với kế hoạch cá nhân. Do yếu tố kinh tế chi phối nên không có nhiều dân du lịch bụi có cơ hội thực hiện được các chuyến chinh phục đỉnh cao ngoài biên giới kể trên. Tuy nhiên, ngoài đặc điểm tuyệt vời của địa hình với thiên nhiên kỳ vỹ và ấn tượng, việc chinh phục các điểm đến này cũng là những minh chứng sâu sắc về ý chí vượt qua thử thách của con người.

Để được “đi”



Leo núi, băng rừng, chinh phục những đỉnh cao là một hình thức du lịch được yêu thích trên thế giới. Một sở thích lành mạnh, thỏa mãn được đam mê khám phá những khu vực thiên nhiên hoang dã, hấp dẫn và độc đáo. Sau những chuyến đi mà ý chí đóng vai trò cực kỳ quan trọng này, nhiều người đã tìm lại được cho mình nguồn năng lượng dồi dào, tươi mới trong cuộc sống cũng như nhiệt huyết cho nhiều chuyến đi tiếp sau này.

Sau khi đỉnh cao Pu Ta Leng được chinh phục, sẽ có những đỉnh cao khác trong bản đồ Việt Nam được hướng tới như đỉnh Nhĩ Cù San (Bát Xát, Lào Cai), đỉnh Ngọc Linh (dãy Trường Sơn) với đam mê và nhiệt huyết của những người leo núi, băng rừng không chuyên. Đó chính là những hành trình mới, hấp dẫn và nhiều mơ ước, đang thúc gọi những người trẻ lên đường, đơn giản chỉ là để được “đi”.

* Cách gọi tên điểm giao cắt giữa một kinh độ chẵn với một vĩ độ chẵn.

Du lịch, GO! - Theo Băng Giang (TTO) và nhiều nguồn khác.

- Bản đồ của google có một chút nhầm lẫn trong chú thích về núi Pu Ta Leng. Ngọn núi này thực chất thuộc địa phận huyện Tam Đường - Lai Châu (không phải Tam Đường Lào Cai) - Huyện này có địa thế bao bọc gần như xung quanh thị xã Lai Châu (vì thị xã thực chất được tách ra từ huyện Tam Đường cũ khi chia tách tỉnh năm 2003). Do rất gần thị xã Lai Châu và thị trấn Tam Đường nên khi trời nắng, từ khu vực quảng trường thị xã Lai Châu có thể quan sát thấy khu vực này bằng mắt thường.

Thứ Tư, 26 tháng 12, 2012

Đá làng Nhồi



Lẽ ra, phải gọi là xứ đá, vương quốc đá. Bởi nơi đây toàn đá. Đá xếp chồng lên đá. Đá ngổn ngang khắp cả một vùng làng Nhồi. Đá được ghi vào sử sách quốc gia cả trăm, nghìn năm nay. Và người dân nơi đây được sinh ra giữa tứ bề là đá. Họ sống bằng nghề làm đá. Và đá đã nuôi sống họ hàng trăm, nghìn năm nay.

< Hòn Vọng Phu trên đỉnh núi Nhồi.

Thế nên người ta nặng lòng với đá, để rồi họ đã trả ơn đá bằng những tác phẩm nghệ thuật của mình, đóng góp vào các công trình hạng mục quốc gia. Và “bay” cả thương hiệu ra tầm quốc tế. Đó là câu chuyện làng nghề chạm khắc đá ở thị trấn Nhồi (huyện Đông Sơn, Thanh Hóa).

Choáng ngợp giữa “biển” đá

Nhớ mãi cái hôm vào núi Nhồi, giờ nghĩ lại nếu có ai hỏi tôi, cảm giác nơi đây thế nào? Chắc chắn tôi chỉ biết thốt lên: Ôi, quá đẹp! Cả một công trường đá. Không… đúng hơn là cả một “biển đá”. Những khối đá to vật, xếp chồng lên nhau, tạo thành những ngọn núi đá khổng lồ, cao vút tầm mây.

Đá án ngữ cả một vùng thung lũng như thạch trận. Có ngọn núi, đá đen bóng như hắc hín. Có ngọn núi, đá đỏ chót như cục son môi khổng lồ của nàng thiếu nữ. Lại có ngọn núi nhuốm cả một màu trắng xám. Đá nhiều đến nỗi khiến ai đó nhìn thấy cũng phải nhức mắt.


< Một góc thị trấn Nhồi, huyện Đông Sơn, Thanh Hóa.

Anh Nguyễn Văn Minh, sinh năm 1978 dẫn tôi tiến vào “vương quốc đá”. Con đường thênh thang mà chúng tôi đang đi đột ngột nhỏ xíu lại như một vạch đỏ khéo léo uốn mình theo những quả đồi án ngữ. Nhìn từ ngoài vào trong, núi Nhồi trông giống như cái phễu hút con đường vào sâu tít tắp. Và cái phễu ấy đã lôi cuốn tôi với sức hút lạ lẫm. Cả một dãy núi đá Nhồi chạy quanh co, uốn lượn đến cây số. Cứ cách vài chục mét lại có một vài ngọn núi đá kỳ dị. Có ngọn giống như cái nấm xòe ô. Có ngọn lại bè bè như cánh buồm. Có ngọn lại giống như cột thu lôi đâm chọc lên bầu trời xanh thăm thẳm.

Những ngọn núi với các hình thù quái dị ấy không phải tự nhiên, mà do con người đục, đẽo đá đời đời, kiếp kiếp mà thành. Bạn đi cùng bảo: Hãy quan sát sang ngọn núi phía nam của thung lũng. Vâng, đó là cả một dãy đá trải dài. Hàng trăm người nông dân đang khai thác đá quanh triền núi. Nhìn từ xa trông họ giống như những chú kiến bé xíu đang gặm nhấm miếng pho mát khổng lồ. Nhiều dãy núi trông như miếng dưa hấu bị người ta cắn dở, lộ màu đỏ chót.


< Toàn cảnh chùa Tiên Sơn.

Không nén được lòng mình tôi quyết giơ máy ảnh lên zoom hết cỡ về những ngọn núi đá kỳ dị, bỗng giật mình suýt tuột máy khỏi tay. Ôi, nó đẹp quá. Đẹp đến choáng ngợp, đến sửng sốt, nó như một vách thành khổng lồ đứng sừng sững che chở, bảo vệ người dân bao đời nơi đây.

Đang ngẩn ngơ trước cảnh kỳ vĩ ấy, một anh bạn nơi đây rỉ rả vào tai tôi hỏi nhỏ: “Bạn từ phương xa đến, có muốn nghe nhạc không?”. Tôi chưa hiểu chuyện gì thì cậu ta đã “bắt cóc” tôi và Nguyễn Văn Minh lên chiếc Dream chạy thẳng vào trong thung lũng đá. Chạy được một hồi, “kẻ bắt cóc” chúng tôi dừng xe lại cười bả lả, ý rằng xin lỗi, đùa tí. Không!... Cảm ơn bạn. Vì xung quanh tôi lúc này là cả một dàn nhạc hợp tấu vọng vang khắp thung lũng. Nó to và rôm rả hơn tất cả mọi chiếc loa thùng nào phát ra. Đó là tiếng nhạc của đá. Tiếng rè rè của máy tiện đá. Tiếng cốc cốc của tiếng đục đá chạm trổ. Tiếng thùng thục của những phiến đá được người ta vứt lên thùng xe tải. Đôi lúc lại là tiếng lách cách, đôm đốp phát ra từ những giàn máy xay đá.

Tôi không giấu nổi xúc động khi thấy cảnh người dân nơi đây làm việc. Họ say nghề, yêu nghề, cho nên giữa cái nắng chói chang, họ vẫn hì hục oằn mình giữa “biển” đá để khuân, vác, ghè, đẽo...

Cả một công trường bụi đá trắng xóa như tung hỏa mù. Bụi trắng tinh như bột phấn. Bụi bay bảng lảng giữa công trường. Bụi phớt bột trắng lên những ngọn cỏ xung quanh. Bụi phủ cả lên áo, dính cả lên khuôn mặt của người đục, đẽo đá… và bụi đá tạo nên cái đặc trưng nơi đây.

Thổi hồn vào đá

Khi làng Nhồi xứ Thanh được thiên nhiên ban tặng cho một “biển” đá, thung lũng đá, thì hàng trăm nghìn năm nay, người dân nơi đây trả ơn đá bằng việc dùng đôi tay tài hoa của mình thảo lên đá với nhiều hình thù. Nhìn những bức tượng đá, mái đình đá, chiếu thư bằng đá, bức rèm hoa, bia mộ đá… ta ngỡ như chúng đều có linh hồn.

Công trường của những người thợ là một bãi đất rộng, xung quanh toàn đá. Người dân thì lại gọi là “sân chơi” của những người yêu đá, say mê đá. Dưới cái nắng nóng, người ta vẫn lặn lội giữa “biển” đá, vật lộn với những khối đá khổng lồ mà hầu hết không che bạt chống nắng.

Thậm chí có người không đội cả mũ để tránh mưa, nắng. Họ cứ đầu trần, chân đất hăng say với nghề mà quên cả thời gian và mọi thứ diễn ra xung quanh. Họ kiên nhẫn làm việc như chú ong chăm chỉ. Mặt của họ được phủ bằng một lớp bột đá trộn với mồ hôi nên loang lổ. Tóc của họ cũng được phủ bằng bụi đá nên khô đét, bết lại với nhau thành từng nhúm xơ xác, cằn cỗi. Da cháy xạm đi vì bụi, gió… và nắng. Vẻ đẹp đó nó hoang dã làm sao!

Giữa bụi, gió và nắng có thể ảnh hưởng đến sức khỏe của họ. Sao họ không bỏ nghề? Hay chuyển nghề khác nhàn hạ hơn, dễ kiếm tiền hơn? Tôi đã từng đặt câu hỏi này với Nguyễn Văn Thành, 29 tuổi, thợ đá làng Nhồi. Anh Thành thở dài nói: “Vâng! Cái nghề đá nó bạc bẽo lắm em ạ! Tháng chỉ kiếm được 3 triệu với thợ thường và tối đa 5 triệu với người thợ giỏi”. Trong khi đó, trước từ hồi năm 1995 thường xuyên có cảnh người chết vì khai thác đá, có người bị đá đè gãy chân. Giờ thì không còn cảnh tượng ấy, nhưng hầu hết thợ đá cũng không tránh khỏi ảnh hưởng sức khỏe vì bụi đá, nhất là bệnh phổi. Ông Dương Đình Bảy thì phân trần: “Đây này, mới tháng trước tôi phải nằm viện cả tuần vì bệnh phổi đấy!”.


< Tượng đá ở chùa Tiên Sơn.

Thợ đá Nguyễn Văn Hùng thì bảo tôi: “Cậu đừng hỏi vậy, bởi chúng tôi yêu nghề, say nghề của cha ông hàng trăm, nghìn năm nay. Chúng tôi muốn cống hiến cho các công trình hạng mục quốc gia như: tượng đài, lăng tẩm, đình chùa, miếu mạo, cho đến những tấm bia mộ đời thường nhất. Nghề đá đòi hỏi sự kiên nhẫn, do đó có những người không chịu được cơ cực nên bỏ nghề cũng là dể hiểu. Còn những ai trụ được với nghề, sống chết với nghề là những người đã chấp nhận hy sinh vì nghề”.

Có lần tôi hỏi nghệ nhân chạm khắc đá Nguyễn Văn Đức, năm nay anh 35 tuổi: “Thứ nhất, sao anh lại yêu nghề? Thứ hai là, ngấm nghề từ khi nào?”. Anh Đức chỉ nói gọn lỏn câu: “Tôi yêu nghề và ngấm nghề không biết từ khi nào. Nó cũng giống như con dái cá con mới đẻ ra là biết bơi, mà không biết vì sao mình biết bơi vậy”.

8 năm trước, tôi đã từng chứng kiến cảnh người ta rậm rịch làm đá cả đêm trong một lần ghé thăm quê ngoại nơi đây. Không tưởng tượng được cảnh người ta mắc điện sáng trưng cả bãi đá. Người ta tạc những bức tượng cao cả 6-7m. Nghe nói trước đây khi làm tượng đài cao 15m, người ta phải làm giàn giáo, rồi bắc thang lên khối đá khổng lồ ấy để tạc. Thấy bảo đó là tạc hình ông Lê Lợi. Giờ bức tượng khổng lồ ấy được đặt ngay giữa trung tâm TP Thanh Hóa, như một tâm điểm kiêu hùng của xứ Thanh.

Giữa năm 2012 này, tôi lại càng ngạc nhiên hơn khi vẫn thấy cảnh cứ chiều chiều những chiếc xe tải chở đầy đá trở về làng. Nghe bảo đá ở làng Nhồi không đủ, với lại một số dãy núi đá bị cấm khai thác để làm di tích, vì nghe nói đá ở những ngọn núi quanh hòn Vọng Phu từng cống hiến cho việc xây thành quách, đặc biệt là xây lăng Bác Hồ.

Tuy nhiên, bây giờ người ta không còn làm việc ban đêm nữa, trừ các công trình cấp quốc gia. Thế nhưng, ban ngày người ta làm đá vẫn cứ rào rào như tằm ăn rỗi. Những người thợ vẫn hí húi đục, đẽo, chạm trổ đá với nhiều hình thù mới lạ. Họ không chỉ là nghệ nhân mà còn là họa sĩ, bởi trước khi đục đẽo thì họ phải thảo những bản vẽ của mình lên đá.

Cứ như chàng nghệ nhân Thành ở đây nói, người tạc đá có 3 loại. Loại thứ nhất chuyên tạc theo lối hoa văn truyền thống. Loại thứ hai chuyên tạc theo lối đơn đặt hàng, tức là họ đặt gì mình làm nấy. Còn loại nữa tạc theo phong cách tự mình sáng tác, những người theo lối thứ ba đều là các tay cao thủ thuộc loại tiền bối cả về tuổi đời lẫn tuổi nghề. Họ say mê đá và yêu đá, coi đá như đứa con tinh thần.

Có những bức họa chỉ vì vô tình chộp được mà người nghệ nhân kịp phác thảo lên bàn đá nên để lại tuyệt tác cho đời. Nhưng có những bức họa chỉ lóe trong óc họ giây lát, rồi không hề quay lại nữa, cho dù mười năm, hai mươi năm, hay cả đời. Cho nên nghệ nhân chạm trổ đá cũng là người nghệ sĩ phải biết nắm bắt cái thần đúng lúc, để thổi hồn vào tác phẩm.

Người và đá được ghi vào sử sách

Sách “Đại Nam nhất thống chí” có ghi: Từ thế kỷ thứ III, có một viên Thái thú đời Tấn đã lấy đá núi Nhồi làm khéng (kẻng), khi đánh lên nghe bảo tiếng ngân muôn dặm, ngoài ra còn dùng khắc bia văn chương.
Đến thời Lý, Trần, Lê, Nguyễn... đá núi Nhồi được dùng xây dựng nhiều các công trình như: đình chùa, miếu mạo, lăng tẩm, phủ đệ.

Sau này đá núi Nhồi liên tục đóng góp vào việc xây dựng chùa chiền tầm cỡ lớn như: việc xây dựng nhà thờ Phát Diệm ở Ninh Bình, Phủ Giầy ở Nam Định. Đặc biệt ở làng có cụ Lê Thọ Thuẫn, còn dùng đá núi Nhồi tạc mô hình cầu Hàm Rồng, đưa đi triển lãm Hội nghị Mác-xây. Hội chợ này được mở năm 1922, nghe nói khi Vua Khải Định sang dự. Sau này về nước, Khải Định đã mời cụ Thuẫn vào cung và còn dùng đá núi Nhồi tạc nhiều hình thù như: bức rèm hoa, con ngựa, ông tượng, cho đến cối đá, cái tảng, cậy cột, cái xà, rồng đá... để trang trí cho phủ đệ của mình.

< Nhà ở làng Nhồi.

Cho đến ngày nay người dân làng Nhồi vẫn còn nhớ như in cái chiến tích hào hùng nhất, đó là khi làm bia mộ Phan Đình Phùng và tấm bia Lê Lợi ở huyện Đà Bắc, sông Đà. Bởi hồi đó chiến tranh, bom đạn giặc quần thảo suốt ngày đêm, nhiều khi đang chạm trổ, thấy máy bay địch gầm rú ngang qua là lại phải chui tọt xuống hầm, máy bay đi khỏi lại chui lên làm tiếp. Bài thơ của Lê Lợi trên vách đá cạnh sông Đà cũng được thợ làng Nhồi khéo léo đục đẽo, tách ra khỏi vách núi trước khi xây dựng Nhà máy Thủy điện Hòa Bình, để nước khỏi nhấn chìm.

Nhớ lại hồi Chúa Nguyễn mở mang bờ cõi vào phương Nam, người dân Nhồi cũng theo đến Đà Nẵng, dựng lên một làng đá có tên là Non Nước, nay còn nổi tiếng hơn cả làng Nhồi.

Trong một lần tình cờ gặp TS Phạm Văn Đấu, cán bộ văn hóa tỉnh (sau này chuyển về Trường đại học Hồng Đức, giảng dạy chuyên ngành khảo cổ học), ông bảo, chính đá núi Nhồi cũng góp phần xây dựng thành nhà Hồ. Rồi cả chùa Bút Tháp, Lam Kinh, Tân Trào. Ngay cả Trúc Lâm Thiền viện tận Pháp, thợ làng Nhồi cũng sang tận nơi chạm trổ. Tượng đài Lê Lợi cao 15m cũng từ đá và thợ đá làng Nhồi “thổi hồn” vào mà thành. Rồi đá núi Nhồi cũng được dùng để lát quanh hồ Gươm nhân kỷ niệm Đại lễ 1.000 năm Thăng Long.

Nhưng có lẽ niềm tự hào nhất của người dân xứ Thanh khi được đóng góp sức người, sức của vào việc xây dựng Bảo tàng và Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Làng đá Nhồi có tự bao giờ?


< Hội Nhồi với tục rước Bà Đống.

Vâng! Người và đá làng Nhồi xứ Thanh được ghi vào sử sách như thế đấy! Nhưng đến khi hỏi người dân “xứ đá” rằng, nghề đá làng mình đã “hưởng thọ” bao nhiêu tuổi rồi? Tất thảy mọi người đều ngơ ngác nhìn nhau, ừ nghề đá làng mình có tự bao giờ nhỉ?

May quá, gặp được TS Phạm Văn Đấu, người chuyên nghiên cứu về khảo cổ học. Trong đó cụ thể là nghiên cứu về truyền thống văn hóa Đông Sơn. Theo ông, suốt 20 năm Lý Thường Kiệt trị nhậm ở Thanh Hóa đã từng tiến hành khai thác đá quý ở núi Nhồi để xây dựng nhiều công trình thành quách, chùa chiền, phủ đệ…

Như vậy, làng nghề (đục, đẽo, chạm khắc đá) được hình thành từ đấy. Biết rằng, Lý Thường Kiệt (1019-1105), tính ra thì nghề đá làng Nhồi đã có cách đây khoảng 950 năm trở lên. Tuy nhiên, đây chỉ là giả thuyết. Có thể làng nghề ra đời sớm hơn, thậm chí là ra đời muộn hơn đây rất nhiều. Vì theo như cuốn sách “Đại Nam nhất thống chí”: Nếu tính ra từ đời Tấn đến giai đoạn thời Lý Thường Kiệt còn kéo dài đến 10 thế kỷ. Ôi! thế vậy thì “xứ đá” của người Thanh đã hưởng thọ già lắm rồi, ít cũng phải gần hai ngàn năm.

TS Phạm Văn Đấu chỉ tiếc rằng, mình có nhà biên sử nhưng lại không có người chép lại sử sách làng nghề chạm, khắc đá núi Nhồi. Người dân có gia phả, chủ yếu lại ghi về vai vế, thứ bậc dòng họ. Mà có khi họ làm ăn tối mịt suốt ngày, có ai rỗi mà ghi. Cho nên cái nghề đục đục, chát chát ấy có tự bao giờ cũng mấy ai hay.

Tuy nhiên, để hiểu được lịch sử “xứ đá” có tự bao giờ, chúng ta lại cần phải căn cứ vào những tấm bia mộ đá. Bởi đó là sản phẩm nghề chạm khắc đá, là hiện vật minh chứng cho tuổi của làng nghề. Cứ như sách “Đại Nam nhất thống chí” chép: “Một trong những công trình đầu tiên được thợ đá làng Nhồi tạo nên đó là chùa Hình, chùa Tiên Sơn.

Chùa Tiên Sơn ở trong động núi Khế, thuộc Nhuệ thôn, xã An Hoạch. Phía bắc chùa ở sườn núi có một hang đá, có 2 lỗ tả, hữu rộng 5-6 thước, dài chừng 2 trượng xây làm cửa, vách đá khắc tượng quân Đế, bên cạnh khắc tượng Chu Xương, cùng với tả hữu, tất cả 5 pho tượng. Trên đầu chỗ thờ có khắc hai chữ “Nghiêm nhiên”, cả hai bên vách đá có người đá, voi đá, ngựa đá. Phía trên vách đá khắc chìm 4 chữ “Thiên cổ vĩ nhân” và một chữ “Thần” nổi. Chùa Tiên Sơn do Lê Định Truyền, người sở tại dựng năm Hoằng Định thứ 10 (1609)”.

< Đỉnh núi Nhồi trong sương sớm.

Lăng Quận Mãn. Đây là một công trình kiến trúc độc đáo bằng đá vào loại bậc nhất Thanh Hóa. Tất cả các hiện vật trong khu vực thờ Quận Mãn từ các con giống, lính hầu, điện thờ, ngai thờ… đều được làm bằng đá với một kỹ thuật tinh xảo mà ít nơi có được. Đình Thượng là nơi thờ thành hoàng, “ông tổ nghề đục đá”. Hiện còn lại nhiều tác phẩm điêu khắc bằng đá rất sinh động.

Như vậy, căn cứ vào sách vở thì làng nghề chạm khắc đá núi Nhồi ít nhất cũng đã có từ hơn một ngàn đến gần hai ngàn năm. Tuy nhiên, nó phát triển mạnh mẽ khoảng độ hơn 500 năm.

Du lịch, GO! - Theo Hà Long - Xuân Hoàng (Petrotimes) và nhiều nguồn ảnh khác.

Thứ Ba, 25 tháng 12, 2012

Hà Giang – miền đất “phượt” kỳ thú

Hà Giang, miền địa đầu cực Bắc Tổ quốc Việt Nam, dù mùa nào cũng làm say đắm lòng người, nhất là đối với những người ham di chuyển hay ham “phượt”. Đến Hà Giang có thể đi bằng ô tô, nhưng với chúng tôi, thú rong ruổi ba lô trên xe máy uốn lượn theo từng con đường đèo ôm quanh sườn núi, hòa mình vào thiên nhiên hùng vĩ mới thực sự là những trải nghiệm đầy thú vị.

Khởi hành từ Hà Nội, theo cung đường qua Phúc Yên – Hương Canh – Vĩnh Yên – Việt Trì – Phú Thọ - Tuyên Quang lên đến Hà Giang khoảng 300km, trong khoảng 6 giờ đồng hồ, chúng tôi đến được TP. Hà Giang - thành phố giữa bốn bề núi non hùng vĩ, có dòng sông Lô chảy qua…

< Dòng sông Nho Quế nhìn từ đỉnh Mã Pì Lèng.

Hành trang mang theo với đầy đủ quần áo, vật dụng cần thiết để trong những ba lô chuyên dụng vắt ngang thân xe hoặc buộc cẩn thận sau xe, để tránh gây mỏi khi đeo nặng trên vai trong suốt hành trình dài. Bên cạnh một số vật phẩm mang đi để tặng các em nhỏ Hà Giang, hành trang chúng tôi không thể thiếu chiếc máy ảnh - vật gắn bó và làm tăng niềm đam mê của mỗi thành viên với cảnh sắc kỳ vỹ trên từng cung đường.

< Thung lũng mây Quản Bạ.

Bất cứ đoạn nào cảnh đẹp có thể dừng lại để ngắm thỏa thích, tranh thủ giơ máy lên bấm nhanh vài kiểu ảnh, lưu lại những hình ảnh đẹp ngút ngàn nơi đó, rồi lại lên xe đi tiếp… Cái thú của du lịch phượt bằng xe máy là vậy!

Chặng đường từ TP. Hà Giang lên cao nguyên đá mới thực sự bắt đầu cung đường khám phá và chinh phục những con đèo hùng vỹ nơi đây. Vượt qua 45km đường đèo khúc khuỷu, chúng tôi qua đèo Bắc Sum, ghé “cổng trời” Quản Bạ, chiêm ngưỡng danh thắng núi Đôi do thiên tạo thật tuyệt mỹ.


< Những khúc cua tay áo vắt vẻo lưng chừng núi.

Hành trình từ Quản Bạ, lên Yên Minh đến cao nguyên đá Đồng Văn khoảng 175km, trên đường đi, chúng tôi ghé thăm nhà Pao ở Sưng Là, thăm di tích kiến trúc nghệ thuật Nhà Vương (nhà vua Mèo Vương Chí Sình) - một công trình kiến trúc đẹp hiếm có và độc đáo, từng được ví như một hạt ngọc xanh giữa lòng Công viên địa chất cao nguyên đá Đồng Văn.

Tiếp tục lên cao nguyên đá Đồng Văn, chúng tôi sững sờ trong khung cảnh thiên nhiên hùng vĩ, giữa những vách đá cao sừng sững được tô điểm bởi những nếp nhà xinh xắn, những ruộng bậc thang đan xen chênh vênh sườn núi, thấp thoáng bóng các thiếu nữ dân tộc Mông trong những bộ váy áo rực rỡ như những bông hoa, rạng rỡ những nụ cười trong trẻo của những em bé Mông hai bên đường hân hoan vẫy chào, rồi trải nghiệm cảm giác đi dưới bầu trời đêm lung linh đầy sao sáng uốn lượn theo những cung đường đèo, những ánh đèn pha nhấp nháy nối đuôi nhau đều tăm tắp làm sáng bừng cả một vùng núi đá…

< Nhóm lửa đun cà phê trên đỉnh Mã Pì Lèng.

Nghỉ đêm tại thị trấn Đồng Văn, chúng tôi háo hức mong đến sáng để dạo phố cổ Đồng Văn, thưởng thức những món ăn và rượu ngô Thiên Hương đặc sản… Từ thị trấn Đồng Văn, vòng vèo qua những con đèo tròn trịa như những cái bát đặt sát nhau, một bên là núi, một bên là vực để sang Mèo Vạc, chúng tôi dừng chân tại con đèo huyền thoại Mã Pì Lèng, đứng trên đỉnh nhìn xuống dòng sông Nho Quế chỉ còn như sợi chỉ xanh mong manh, mới thấy được sự hùng vĩ bao la của thiên nhiên nơi đây.

< Đường lên cột cờ Lũng Cú.

Sau khi đến Mèo Vạc, hành trình sẽ được tiếp nối đến Khau Vai. Lên Hà Giang nếu đúng vào dịp tháng 3 âm lịch, bạn sẽ có cơ hội tham dự chợ tình Khau Vai độc đáo của đồng bào dân tộc Mông nơi đây. Còn nếu lên vào tháng 10, bạn sẽ có cơ hội chiêm ngưỡng những ruộng bậc thang lúa chín, những cánh đồng tam giác mạch nở rộ bát ngát vùng cao nguyên đá… mang đến cho bạn những ấn ượng khó thể quên.

Đến Hà Giang, ai cũng mong một lần đặt chân lên Lũng Cú - nơi địa đầu của Tổ quốc, nơi có cột cờ Lũng Cú được cắm trên đỉnh núi Rồng ở độ cao 1.535m so với mặt biển.

Chúng tôi lặng ngắm lá cờ đỏ sao vàng có diện tích 54m2 đại diện cho 54 dân tộc anh em sinh sống trên đất nước Việt Nam tung bay uy nghi trong nắng gió, như một biểu tượng thiêng liêng của chủ quyền đất nước, của niềm tự hào và ý chí tự cường của dân tộc Việt Nam.
Với chúng tôi, Hà Giang dù có đi nữa… cũng không bao giờ chán…!

Du lịch, GO! - Theo Nguyễn Trang (Camnangdulich), internet

Lên những lớp học mới trên đỉnh núi

Như một chuyến caravan, nhưng không chỉ để thử tay lái trên những cung đường đèo dốc hay để ngắm cảnh đẹp trong nắng hoe vàng, trong sương khói qua bao dặm trường lên Tây Bắc mà còn là chuyến đi từ thiện đến với những đứa trẻ người Mông, Mảng, Hà Nhì đang thiếu thốn nhiều thứ, nhất là con chữ.

Trong ánh sáng nhập nhoạng, những con dốc ngược ngoằn ngoèo làm phấn khích những tay “lái già” như Nakio, Phương ZJ… Xe dồn số, tiếng máy gầm lên đầy uy lực, chiếc xe cõng hàng hoá vun vút lao vào đêm tối mịt mùng.

Những gói chăn màn, quần áo đồng phục, sách vở… đã được đóng gói cẩn thận, xếp đầy những thùng hàng. Chiếc tủ đựng dụng cụ học tập được buộc chặt trên giá nóc. Tôi cùng những người bạn trên một diễn đàn ôtô thực hiện hành trình trở lại Nậm Ban trên chiếc pickup Navara AT.

“Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”

Nậm Ban, một xã giáp biên thuộc huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu, nổi tiếng với những dãy núi cao ngút trời, những con đường chênh vênh trên vách núi, nơi những đứa trẻ người Mông, người Mảng, Hà Nhì vẫn ngày ngày chân trần áo mỏng đến trường trong cái lạnh cắt da thịt. Không điện, không đường giao thông, không sóng điện thoại, cuộc sống của người dân nơi đây với đầy những khó khăn, khắc nghiệt vẫn kiên cường bám đất, dựng bản, giữ vững sự bình yên nơi địa đầu tổ quốc. Lần này, chúng tôi trở lại Nậm Ban để khánh thành bảy lớp học mới được dựng lên nhờ những tấm lòng hảo tâm.

6 giờ sáng, đoàn xe đi Nậm Ban đã xếp hàng dài chờ xuất phát. Tiếng còi lệnh của trưởng đoàn Sơn “cua” đánh thức những con chiến mã đường trường. Đoàn xe 29 chiếc thẳng hướng Phú Thọ, qua Thanh Sơn, Thu Cúc trên quốc lộ 32 lừng danh kéo dài từ Hà Nội lên tới Lai Châu.

Thị xã Nghĩa Lộ hiện ra trước mắt sau hơn ba giờ hành trình cũng là thời điểm sự cố đầu tiên xảy ra. Chiếc Pajero đi đầu do anh Phương ZJ cầm lái trục trặc. Đoàn quyết định để lại hai xe hỗ trợ, còn lại vẫn tiếp tục lên Lai Châu theo dự kiến. Chúng tôi trong nhóm ở lại. Hỏng bơm xăng, sau gần ba tiếng loay hoay tháo lắp mà không có kết quả, rốt cục, chính chiếc bơm xăng cũ của xe lại làm xe chạy được.


< Những cung đường “chạm mây”.

Chiều đã nhập nhoạng, bên đường, những cậu bé vừa tan lớp ùa ra cùng những chiếc xe đạp gỗ tự chế. Đứa lái, đứa đẩy, phăm phăm đổ dốc về nhà. Chẳng biết từ khi nào, những xe đạp gỗ này đã trở thành món “đặc sản” của bọn trẻ con vùng cao. Xe làm bằng tre và gỗ là món đồ chơi hiếm hoi bạn có thể gặp được ở đây; chúng rất sáng tạo và thú vị. Nghe nói, nhiều dân dưới xuôi khoái thứ xe gỗ này, xin mua lại của bọn trẻ trên vùng cao mang về xuôi… chơi.

Tôi chợt nhớ đến những đứa trẻ người Mảng ở Nậm Ban trong chuyến đi tiền trạm đến một lớp học bé xíu treo trên lưng chừng núi, thực quá đỗi đơn sơ. Đứng bên sân, nhìn xuyên qua vách liếp, có thể nhìn thấy cả đám ruộng bậc thang đang trổ đòng xa xa. Những búi rạ lợp mái không chịu nổi mưa nắng vùng cao, thủng lỗ chỗ, trút nước ào ào xuống bàn học. Lũ trẻ con cuống cuồng ôm sách vở chạy dồn sang góc lớp. Chen chúc trên chiếc bàn hẹp, cô trò lại cùng nhau ngân nga i tờ.

Những cung đường “chạm mây”

Trời dần tối, chúng tôi vội vã tăng tốc đuổi theo đoàn. Bỏ qua thị trấn Tú Lệ kiều diễm với những chõ xôi nếp thơm lừng và hình ảnh những cô gái Thái đang thảnh thơi tắm suối, chúng tôi lên đèo Khau Phạ. 8 giờ tối, chúng tôi dừng chân bên Cổng Trời ở một quán ăn khá đẹp, nằm sâu giữa hai vách núi, huyền ảo trong tiếng suối reo và cả trong những đám mây vờn quanh đỉnh núi.

Rời Cổng trời. Xe đổ đèo, máy hơi gằn khi thả dốc. Chúng tôi băng qua Mù Cang Chải khi đồng hồ đã qua con số 10, ngậm ngùi bỏ qua những đám ruộng bậc thang nổi tiếng, đành hẹn những đám lúa vàng trong chuyến trở về. Bên dòng Nậm Kim, những nhà máy thuỷ điện nhỏ nối tiếp nhau rực sáng trong đêm.

Ào ào băng qua những con đường xóc, thành phố Lai Châu đã cận kề khi kim đồng hồ gặp nhau ở số 12. Từ trên đỉnh núi nhìn xuống, thành phố sáng rực đèn điện, lung linh giữa bốn bề ngút ngàn núi cao. Vào sân khách sạn Mường Thanh trong những cái ngáp dài mệt mỏi. Đoàn xe đến trước đã đỗ kín sân, các phòng đã tắt đèn đi ngủ từ lâu, chuẩn bị sức cho ngày mai xuống bản.

Đi dạo một vòng, hít căng lồng ngực cái không khí mát lạnh của vùng núi cao, thả mình trong tiếng dế, tiếng côn trùng rả rích. Sau chặng đường dài mệt mỏi, tôi vẫn không sao ngủ được. Một kẻ có “máu xê dịch” như tôi mà chẳng hiểu sao giờ này, lại thấy hồi hộp lạ. Có lẽ cái “trách nhiệm nặng nề” của chuyến đi từ thiện này làm tôi trăn trở. Lần đầu tiên tôi thấy mình không phải là kẻ “lông bông”, tôi trở nên hữu ích.

Ngày mai, cả đoàn sẽ đi Nậm Ban, rồi lên điểm trường. Nghĩ đến những con dốc đá ngoằn ngoèo chỉ nhỉnh hơn vệt bánh xe vắt qua hẻm vực dựng đứng dẫn lên những lớp học liêu xiêu bên dốc núi, tôi thấy háo hức...

Lên những lớp học mới trên đỉnh núi

Trời bắt đầu mưa. Lá cây rừng đọng mưa quất ràn rạt vào mặt. Mặt đất ngấm nước thành một đám bùn lỏng, trơn nhẫy. Cậu giáo viên chở tôi, tay gồng cứng giữ lái chạy trên con đường chỉ nhỉnh hơn vệt bánh xe.


< Trẻ con ở Nậm Ban.

Sự mệt mỏi của ngày hôm trước khiến năm tiếng ngủ đêm chỉ như một phút chợp mắt, chúng tôi lại chuẩn bị lên đường. 7 giờ, đoàn xe khởi hành theo đường 4D, bắt ra quốc lộ 12 đi Sìn Hồ. Những con đường Tây Bắc lúc nào cũng quanh co, uốn lượn, vắt qua từng ngọn núi; vút lên cao, chui vào trong những đám mây mù rồi bất chợt oà nắng khi lên tới đỉnh. Dù vội, cả đoàn vẫn dành đôi phút dừng chân, tận hưởng vẻ đẹp kỳ vĩ của những đỉnh núi cao nhấp nhô trong mây sớm.

Bên dòng Nậm Na

Quốc lộ 12 đi Điện Biên chạy dọc theo dòng Nậm Na hùng vĩ. Những cơn mưa cuối mùa làm dòng nước đỏ quạch, chảy ầm ào. Những chiếc xe bán tải chất đầy hàng nối đuôi nhau bò qua những đoạn đường phủ đầy đất đá do sạt lở. Cứ vài cây số đoàn lại phải dừng, chờ máy xúc, máy ủi gạt đất, san đường để đi tiếp.

Bên cây cầu treo đã cũ vắt qua dòng Nậm Na, một cây cầu bêtông đang dần hoàn thành. Quyết định thử cảm giác mạnh, tôi cho xe chạy qua cầu treo. Cách xa mặt nước gần 30 thước, chiếc xe đung đưa theo nhịp cầu như đu võng, sàn cầu lõm xuống theo vệt bánh xe lăn. Dừng xe, tôi tranh thủ chụp ảnh trước khi nó bị dỡ bỏ.


< Những đứa trẻ ở bản làng đang chờ nhận quà từ miền xuôi mang lên.

Đến trước cửa nhà anh Lý Hà Nhè, chủ tịch UBND xã Nậm Ban, điểm dừng chân của đoàn. Bữa trưa ăn sớm được triển khai chóng vánh với mì tôm và thịt hộp, rồi chúng tôi cùng châu đầu vào tấm bản đồ xã, chia tốp, chia hàng để đưa tới các điểm trường. Từng bao tải chăn màn, quần áo, giày dép, sách vở được gói kỹ, bọc trong nilông, chia đều ra 15 xe chở tới chân núi, nơi bắt đầu công cuộc gùi, thồ, cõng, vác…

Nghe chủ tịch Nhè chỉ lên đỉnh ngọn núi phía xa bảo: “Đường lên Nậm Vạc, Hua Bản mấy hôm nay trời mưa, khó đi lắm”. Người Mông, người Mảng ở Tây Bắc là những chuyên gia leo núi, nếu họ bảo, đường khó đi thì chắc là gian nan rồi. Nhưng mong muốn trao tận tay những em bé Nậm Ban từng bộ đồng phục, từng quyển vở, cây bút là khát khao của không chỉ mấy chục người trong đoàn, mà còn là của rất nhiều người hảo tâm khác đã gửi gắm. Tôi, anh Sơn Rack cùng anh Quang “đường trường” xung phong đi một trong những điểm xa nhất: Nậm Vạc, nơi cách chỗ chúng tôi dừng chân gần 40km đường núi.

Là một trường tiểu học của xã, sĩ số học sinh gần 900 em nhưng tiểu học Nậm Ban lại chia thành 15 điểm trường, nằm tít tắp trên cả chục đỉnh núi, cách xa nhau đến nửa ngày đường. Lớp học gần bản cốt để trẻ em Nậm Ban không đánh rơi con chữ, nhưng với những giáo viên dưới xã hàng ngày phải đi đi về về thì quả là vất vả.

Một tốp thầy giáo của trường đã ngồi sẵn trên xe máy, chờ đưa chúng tôi lên điểm trường. Tốp khác thì phi tới chân núi, chờ ôtô đổ hàng rồi “tăng bo” lên dốc.

Con đường “nín thở”

Cậu giáo viên chở tôi nhìn lên đỉnh núi xám xịt lẩm bẩm: “Mưa rồi anh ạ!” Lục tục mở cốp xe, ba cậu tài xế giáo viên lôi từ trong cốp ra mấy bộ xích quấn lốp. “Không có cái này thì chỉ có cách vác xe lên núi thôi!”, cậu giáo viên nói. Lại lên xe, hối hả lao vào con đường mòn cỏ lác um tùm.

Con đường mòn vắt vẻo hình chữ Z cứ nhỏ dần theo độ cao của núi, đường nhầy nhụa. Chẳng giúp được gì, tôi chỉ biết ngồi sát, ôm cứng lưng “tài xế”. Nín thở, không dám nhúc nhích mỗi khi xe vào cua tay áo, có lẽ chỉ cần tôi cựa mình là xe có thể mất lái.

Soạt… bánh sau trèo phải hòn đá to, nẩy lên, trôi mạnh. Theo phản xạ, tôi chống chân, cuống cuồng bám tay vào đám cây leo bên vách núi, hai anh em chân kẹp chặt xe, chầm chậm “cẩu” nó lên đường. Hú vía. Một túp lều nhỏ hiện ra bên lưng núi làm chỗ nghỉ chân, nhìn lên đỉnh núi, thấy căn lớp nhỏ xinh ẩn hiện trong đám mây mù mà lòng thầm phục những thầy cô giáo cắm bản, vẫn ngày ngày đi về trên con đường ấy.

< Cô giáo cùng học trò bản làng dùng cơm trưa ngay tại lớp học.

Con dốc ngược sát đỉnh núi làm xe chết máy, chúng tôi đành xuống đẩy xe lên. May sao, điểm trường đã hiện ra trước mặt. Một đám trẻ con chạy ùa ra đón chúng tôi – những nụ cười hồn nhiên, rạng rỡ. Tôi hồ hởi bắt tay từng người, bao mệt nhọc bỗng chốc trôi sạch.

Bên lớp học bằng gỗ vừa mới dựng lên, lũ trẻ con há hốc mồm nhìn những bao tải quần áo đồng phục, sách vở mới tinh tươm vừa được gùi lên. Chia đều quà cho từng em trong niềm vui râm ran, tôi bỗng thấy vui lây niềm vui học trò. Ngày mai, các em sẽ đến trường, xúng xính trong bộ đồng phục mới, những cuốn sách giáo khoa không còn mất góc, những quyển vở không còn ố vết nước mưa… Với các em, niềm vui đến trường sẽ lớn hơn, tức là sẽ có ít hơn những em nhỏ, vì khó khăn mà bỏ học. Nhìn vào ánh mắt lấp lánh của các em, tôi tin vậy.

Sau khi đi một vòng ngắm thành quả của bao tấm lòng hảo tâm, tôi đại diện đoàn cầm búa đinh đóng tấm biển “Kính tặng” lên mép cửa, chính thức khai trương lớp học mới. Nhìn lớp học nhỏ tươi màu gỗ mới nổi bật trong màu xanh cây rừng, ríu rít tiếng cười trẻ thơ, tôi chợt thấy lòng mình thanh thản lạ thường. Sẽ còn nhiều nữa sau chúng tôi, những trái tim rộng mở. Nhặt viên ngói nhỏ, tôi viết lên đầu tường gỗ dòng chữ “Chúng tôi sẽ trở lại Nậm Ban”.

Du lịch, GO! - Theo Hoàng Minh, Quang Trung (SGTT), internet

Thứ Bảy, 22 tháng 12, 2012

Núi đá di tích quốc gia thành... bãi tha ma

Núi Phú Thọ nằm kề thôn Cổ Luỹ, thuộc xã Nghĩa Thương, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Núi cao 60m (có nơi ghi 41m) so với mực nước biển với nhiều khối đá granit xám có kích cỡ và hình dạng khác nhau.

< Những khối đá lớn nhỏ ở núi Phú Thọ xếp bên nhau như thạch trận.

Đứng xa xa đã thấy trên núi lô nhô đá nhỏ, đá to xen lẫn với bóng cây cổ thụ tuyệt đẹp. Đến gần là những khối đá xếp chồng bên nhau như thạch trận. Trên núi còn có hang thiên tạo với hai khối đá dựng lên làm trụ, đỡ một tảng đá lớn nhô ra phía trước trông tựa mái hiên.

< Một trong nhũng phế tích của thành Bàn Cờ còn sót lại.

Khu vực núi rộng hơn 8 héc ta, trông giống như một người khổng lồ chân dầm xuống dòng nước sông Trà, sông Vệ, mặt hướng về biển đông bao la. Trên núi còn phế tích của thành Bàn Cờ và thành Hòn Vàng. Năm Tự Đức thứ 10, vua cho xây dựng pháo đài trên núi để đề phòng hải tặc.

< Những văn bia, miếu mạo nằm chơ vơ trên núi.

Trong núi có hang sâu 5m, rộng 2m, dài khoảng 40m, quanh năm có nước chảy, rêu phong. Trong hang có chùa, gọi là chùa Hang. Trước chùa có hòn đá to, dân địa phương gọi là Hòn Vàng. Bên trái có Hòn Trống, bên phải có Hòn Chiêng, khi gõ vào có âm vang như tiếng chiêng, tiếng trống.

< Cổng thành cổ vào trung tâm khu di tích.

Trong Quảng Ngãi nhất thống chí có ghi: “Núi Phú Thọ, đông giáp cửa bể Cổ Lũy, tây liền với núi Bàn Cờ, nam giáp Vũng Tàu, bắc giáp sông Trà, Núi có những đá to mọc vút lên và nhọn trông như ngón tay chỏ lên. Đời Tự Đức đặt pháo đài ở đỉnh núi này để phòng giặc bể…”.

< Vậy nhưng giờ đây, du khách lên đây sẽ bắt gặp la liệt những ngôi mộ xây dựng quy mô, kiên cố trên núi di tích quốc gia.

Thành Bàn Cờ nằm trên núi Phú Thọ hướng về đông bắc, cách chùa Hang 300m về hướng nam; phía bắc thành là sông Trà, nam là sông Vệ, đông là Cửa Đại. Như vậy thành Bàn Cờ nằm ở vị trí cực kỳ quan trọng và lợi hại đối với việc phòng thủ – nó như một đồn tiền tiêu án ngữ ngay trên cửa sông Trà.

< Trong đó có cả những khu mộ dòng tộc.

Bờ thành cao 25m, có bốn mặt thành vuông vức như bàn cờ. Mỗi mặt thành là hình thang cân được áp gạch và xây móng ba lớp bền vững. Chính vì thế thành Bàn Cờ được coi là một công trình kiến trúc quân sự đầy sáng tạo và độc đáo của người Chàm xưa.

< Đường lên di tích cũng bị áng ngữ bởi mộ phần.

Ngoài thành Bàn Cờ trên núi Thạch Sơn còn có thành Hòn Yàng (Vàng) là một công trình kiến trúc dân sự của người Chàm. Những phế tích còn lại nơi đây vẫn là một điều bí ẩn hấp dẫn đối với các nhà nghiên cứu kiến trúc văn hóa Cham pa.

< Nhìn quanh, chỉ thấy bốn bề toàn mồ mả.

Từ lâu, Núi đá Phú Thọ đã trở thành điểm đến tham quan, ngắm cảnh, dã ngoại của du khách thập phương. Đầu năm 1993, núi đá này đã được Bộ Văn hóa Thông tin (nay là Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch) công nhận là di tích cấp quốc gia.

< Khung cảnh nên thơ, hùng vĩ của Di tích quốc gia Núi đã Phú Thọ bị phá hủy bởi ngổn ngang những mộ phần.

Thế nhưng, sau 20 năm được tôn vinh, thắng cảnh này đang bị biến thành một nghĩa địa khổng lồ với la liệt mồ mả. Do địa phương chưa quy hoạch khu đất nghĩa địa nên người dân đã vô tư lấn chiếm di tích làm nơi an nghỉ cho người quá cố.

< Núi Phú Thọ cao 60m so với mực nước biển, đứng trên đây có thể nhìn bao quát cả một vùng hạ lưu sông Trà rộng lớn. Thật tiếc cho một danh thắng đẹp!

< Những tảng đá xám độc nhất vô nhị được xếp đặt một cách bí ẩn dưới bàn tay tạo hóa...

Quy hoạch tổng thể khu di tích Núi đá Phú Thọ có diện tích 11,9 ha, nhưng nay, theo thống kê, phần đất trống của di tích chỉ còn chừng 10%.

Tỉnh ủy Quảng Ngãi từng chỉ đạo Sở Văn hóa – Thể thao & Du lịch, huyện Tư Nghĩa, xã Nghĩa Phú cần có biện pháp can thiệp kịp thời để “giải cứu di tích” Núi đá Phú Thọ đang từng ngày bị "người chết lấn chiếm”.

Du lịch, GO! - Theo VTC News, Tunghia Quangngai và nhiều nguồn khác

Quyến rũ Bà Rá…

Cách thành phố Hồ Chí Minh 180 km, khu du lịch núi Bà Rá là một thắng cảnh đẹp của phường Sơn Giang, huyện Phước Long, tỉnh Bình Phước - Đây cũng là ngọn núi cao thứ 3 ở Nam Bộ.

< Núi Bà Rá trong một ngày lờ mờ sương.

Sau hơn 2 năm đưa vào khai thác, đến nay cáp treo Bà Rá đã trở thành điểm du lịch thu hút du khách khắp nơi. Đây cũng chính là điểm du lịch thể thao mạo hiểm, du lịch tâm linh mỗi khi du khách có dịp về khám phá miền phố núi Đồng Xoài - Bình Phước.

Dải lụa mềm trên phố núi

< Hình ảnh Núi Bà Rá nhìn từ hồ Thác Mơ - Bình Phước.

Núi Bà Rá có độ cao gần 750m so với mực nước biển, để leo lên tới đỉnh của ngọn núi, du khách phải vượt qua 1.767 bậc tam cấp tính từ đồi Bằng Lăng. Thay vì phải mệt mỏi vượt qua bậc tam cấp thì nay du khách đã thoải mái ngồi trong những cabin của hệ thống cáp treo Bá Rá ngắm nhìn cả một khu vực rộng lớn, bao gồm thị trấn Thác Mơ xinh đẹp, toàn cảnh hồ Long Thủy, hồ thủy điện Thác Mơ mà vào mùa mưa diện tích nước bao chiếm tới 12.000ha như một biển nước xanh thẳm xa tít, hòa quyện chập chờn giữa rừng núi, tạo cho du khách cảm giác thân thiện, đắm đuối, được trở về cùng thiên nhiên hoang sơ.

< Đường lên núi Bà Rá.

Lên đỉnh núi Bà Rá bằng cáp treo vào những ngày đẹp trời, mây bay nhởn nhơ, tản bộ nơi đỉnh cao chót vót vào buổi bình minh hay chiều tối, du khách sẽ tận hưởng những giọt sương nơi vùng núi lãng đãng rơi lấm tấm trên tóc, đậu ướt vai áo. Khí hậu trên núi vừa mát mẻ, vừa se lạnh rất nên thơ của khí hậu vùng ôn đới hệt như cao nguyên Đà Lạt.

Tối đến, du khách còn có thể chiêm ngưỡng vẻ đẹp thơ mộng của thị tứ Thác Mơ qua ánh điện lung linh huyền ảo từ những ngọn đèn nhà máy thủy điện hòa lẫn trong sương đêm.

< Thị trấn Thác Mơ ven chân núi Bà Rá.

Mỗi khi đi cáp treo, dạo chơi trong các hang động, rừng cây hay tản bộ tham quan những di tích lịch sử năm xưa, du khách như được kích thích thêm nghị lực để để vượt qua những thử thách trong cuộc sống. Quanh núi Bà Rá được bao bọc bởi khu rừng đặc dụng với đủ loại gỗ quý hiếm đặc trưng của rừng nhiệt đới như cẩm lai, gõ đỏ, gõ mật, sao, dầu, bằng lăng... và nhiều loài động vật quý hiếm khác.

Giá trị văn hóa tâm linh

Núi Bà Rá, người Stiêng gọi là Bơnom Brah hay yumbra (đỉnh núi thần) không chỉ thơ mộng, hùng vĩ mà còn là nơi chốn linh thiêng. Có nhiều câu chuyện kể về vùng đất này, những câu chuyện được những chiến sĩ năm xưa hoạt động trên chiến trường Bà Rá kể lại, câu chuyện do du khách chứng kiến… đều là những câu chuyện có thật, không hề thêu dệt, đã gây xúc động lòng người và có những chi tiết đã được đạo diễn đưa vào phim “Bên đường lá đỏ”. Và, điều này lý giải vì sao từ chân núi đến đỉnh núi có nhiều chùa miếu thiêng, nơi nào cũng có người thờ cúng hằng ngày, hằng giờ. Trước đây, du khách phải mất vài giờ đồng hồ leo bộ thì nay bằng cáp treo, du khách chỉ mất khoảng 15 phút là đến đỉnh núi để thành tâm cúng bái.

< Cáp treo đưa du khách lên đến đỉnh núi Bà Rá chỉ trong vòng 15 phút.

Để lên đỉnh núi, với độ cao 723m so với mực nước biển, du khách phải chia cuộc hành trình thành hai đoạn: Từ chân núi lên đồi Bằng Lăng nằm ở khoảng 1/5 độ cao so với đỉnh, đường đã được trải nhựa, xe gắn máy và xe ô tô có thể chạy lên đến đây. Tại đồi Bằng Lăng, có nhà bia tưởng niệm ghi nhớ công lao của các anh hùng liệt sĩ đã hi sinh qua 2 thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.

< Một góc khu nghỉ mát Bà Rá.

Ông Lê Minh Thân, Tổng Giám đốc Công ty TNHH một thành viên xây dựng Bình Phước, đơn vị khai thác du lịch cáp treo Bà Rá cho biết, cùng với khu du lịch Bà Rá- Thác Mơ, hệ thống các hồ thủy điện, rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, các di tích lịch sử và các dự án khác thì du lịch cáp treo Bà Rá mang đậm nét đặc trưng của núi rừng Bình Phước, góp phần cất cánh cho du lịch Bình Phước hội nhập với sự phát triển của vùng Đông Nam bộ nói riêng và cả nước nói chung.

< Khách sạn Núi Bà Rá.

Núi Bà Rá không chỉ biết đến với dấu tích lịch sử hào hùng, nơi du lịch sinh thái hấp dẫn của Bình Phước mà còn được biết đến với giải việt dã truyền thống vào ngày 6/1 hằng năm. Giải việt dã Chinh phục đỉnh cao Bà Rá không chỉ là giải đấu nằm trong hệ thống thi đấu quốc gia mà còn là giải đấu mang tầm quốc tế, hằng năm quy mô của giải ngày càng rộng lớn thu hút nhiều vận động viên đến từ các quốc gia lân cận như CHDCND Lào, Vương quốc Campuchia, Thái Lan, qua đó thắt chặt tinh thần hữu nghị, giao lưu học hỏi giữa các quốc gia lân cận.

< Những bậc thang bộ lên núi.

Đến với Bình Phước, khi tham quan khu du lịch sinh thái núi Bà Rá, du khách có thể hòa mình vào không khí thiên nhiên, cảm nhận luồng gió mát lạnh từ hồ Thác Mơ thổi vào, được nghỉ chân tại khách sạn 3 sao đầu tiên của Bình Phước - khách sạn Mỹ Lệ - thị xã Phước Long với nhiều tiện nghi sang trọng, giá thanh toán hợp lý, chắc chắn người yêu thích thiên nhiên sẽ khó có thể bỏ qua.

Núi Bà Rá không chỉ mang ý nghĩa giá trị lịch sử mà còn là một thắng cảnh đẹp nổi tiếng với dòng sông Bé uốn quanh co, với Thác Mẹ, Thác Mơ, rừng cây với hệ thực vật đa dạng phong phú được Bộ Lâm nghiệp xếp vào hệ thống rừng đặc chủng của cả nước. Nơi đây còn có đập thuỷ điện Thác Mơ, đem lại nguồn điện sinh hoạt cho nhân dân và góp phần thúc đẩy cho sự nghiệp phát triển công nghiệp hoá hiện đại hoá cho đất nước.

Du lịch, GO! - Tổng hợp từ báo Du Lịch và nhiều nguồn khác.

Núi Bà Rá Bình Phước