Thứ Sáu, 5 tháng 10, 2012

Mắc bệnh đó cũng hay

Hai người đàn ông nói chuyện với nhau:
- Hôm nọ tớ đọc một tờ tạp chí khoa học, thấy có bài nói rằng có một căn bệnh chỉ có thể chữa khỏi bằng rượu!
- Thế trong tờ báo có nói cách mắc bệnh đó không?

Xào nấu kịch bản



Nhà báo hỏi một đạo diễn nổi tiếng:
- Phim Việt Nam thường có lời thoại rất dài dòng, ngôn ngữ pha nhiều chất kịch. Tại sao phim của ông không có những lỗi đó?
- Có gì đâu! Khi nhận được kịch bản, tôi dịch ra tiếng nước ngoài cho nó ngắn đi, rồi lại giao cho người khác dịch trở về tiếng Việt để giảm bớt chất kịch.

Phương pháp xử lý con ruồi


Khi phát hiện trong cốc bia hơi có con ruồi:
- Người Mỹ hỏi lại chủ quán xem con ruồi thật hay ảo.
- Người Đức sẽ đổ cốc bia xuống sàn, trả tiền và ra khỏi quán.
- Người Anh sẽ mắng nhiếc chủ quán, đòi cốc khác.
- Người châu Phi ăn con ruồi, sau đó uống bia.
- Người Trung Quốc vứt con ruồi đi và uống bia.
- Người Việt Nam uống ngon lành, sau đó gọi chủ quán lại giới thiệu con ruồi và đòi cốc khác. Trước khi về còn cho người khách khác trong quán thuê lại con ruồi.

Ai thảm hơn

Vào một hôm lúc nửa đêm, trong khu nghĩa địa có hai bộ xương sống lại, đi lang thang ngoài đường. Rồi bộ xương thứ nhất hỏi bộ xương thứ hai:
  - Tại sao anh chết?
Bộ xương thứ hai đáp:
  - Tôi bị xe chẹt chết. Thế còn anh thì sao?
  - Tui bị té lầu chết.
Hai bộ xương đang đi thì thấy một bộ xương tả tơi đi ngoài đường, chúng hỏi bộ xương ấy:
  - Anh bị gì mà chết thảm thế!!
Nó nói:
  - Chết ông nội tụi bây! Tao mới bị vợ đánh vì đi nhậu về nè!

Mẹ chẳng dám ốm


Mẹ trở nên hèn nhát, ham sống sợ chết, vì mẹ chỉ cần hơi ốm chút thôi là nhiều khả năng con sẽ ốm theo mẹ, hoặc rất có thể con sẽ bị “trục xuất” về quê cho đến khi nào mẹ khỏe lại.

 
Mẹ chẳng dám ốm

Hôm ấy mẹ thấy váng đầu, hoa mắt, sau đó bị sốt trong khi bố đi làm chưa về, thấy mẹ nằm bẹp là con hoảng loạn, sợ hãi bắt mẹ đứng lên, rồi con khóc khiến mẹ thương quá song chân tay thì cứ rã rời, bải hoải, thật tội cho mẹ con mình.

Rồi đến lần con mệt, đến đón các cô giáo vẫn khen, cháu ngoan, ốm mà chỉ buồn thiu ngồi một chỗ nhìn các bạn chạy nhảy, chẳng khóc lóc mè nheo, chỉ có điều cháu kém ăn hẳn. Hôm sau thì cô gọi điện báo con bắt đầu ho, mẹ không thể bàng quan được nữa, song công việc thì vẫn bề bộn nên bố phải ở nhà trông con, hai bố con đứng ở cửa, miệng con líu lo “bai bai”, mẹ đi mà lòng trĩu buồn.

Mẹ phải cố vì công ty mẹ làm báo cáo tài chính theo tháng, không phải lúc nào thích nghỉ là nghỉ ngay được, là người có trách nhiệm với công việc và tương lai, thì không ai đành lòng là kẻ hay gây khó khăn cho đồng đội của mình. Vậy là mọi kế hoạch nghỉ cũng như phép năm mẹ đều phải có lịch trình rõ ràng, để không ảnh hưởng đến tất cả.

Con sốt nên hay khóc đêm khiến mẹ muốn kiệt sức, đành gọi điện nhờ bà xuống hộ một tay, được hai hôm, con đỡ bà phải cho con về theo, vì trở trời chị cún cũng ốm, ở quê đông người dễ xoay xở hơn. Chị cún vốn “độc chiếm” bà từ bé, thành ra chỉ khi nào chị ngủ bà mới có thể ôm hãm con được tí, bà kể, con cứ lủi thủi như biết thân biết phận, tự chơi lego, xếp hình một mình. Con có vẻ buồn bã, nhớ bố mẹ, mẹ thì cũng cồn cào ruột gan, lúc nào cũng thắc thỏm, chẳng biết con khỏi hẳn chưa, ăn được nhiều không, có chịu uống sữa... giá mẹ được ở bên con. Cảm giác lực bất tòng tâm thật là khổ sở.

Từ đó mẹ tự nhủ, sống xa nhà thì phải biết tự chăm sóc bản thân, mẹ lo xa và cấm mình không được ốm, cần quan tâm đến sức khỏe, chú ý dặn dò nhau cách ăn uống thật nề nếp, khoa học. Mẹ ăn món mình thích sau cùng để ăn thêm được chút cơm nữa, cho cơ thể đủ năng lượng, mẹ chưa nghĩ đến vấn đề đẹp mà thường nghĩ đến khỏe trước tiên. Sau đó chịu khó vận động, tập thể dục, ngủ đủ và không còn dám làm “cú đêm” với các dự án “to tát”.

Cũng vì, mẹ luôn muốn cả nhà mình ở bên nhau, mẹ được tự tay nấu nướng bữa ăn ngon lành, đủ chất cho hai bố con. Mẹ phải khỏe mạnh để có thể dắt con đi thăm thú các nơi, để chơi đùa cùng con, để có sức giải đáp những thắc mắc dễ thương của bé. Nhờ quyết tâm mà lâu lắm rồi mẹ chưa ốm, thật là may mắn, thế nên mẹ luôn mang cảm giác tất cả ai khi trở thành mẹ thì đều trở nên vỹ đại, ít nhất là đối với các con của họ.

Ka

Đốm và Mực


Con Đốm vốn rất cao số. Mẹ nó là con Ki, bà chủ nuôi được ba năm mà chẳng thấy chửa đẻ gì, nom nó cứ ẻo lả, mình dây, giống chó becgie mà không được lanh lợi nên bà quyết định nuôi con khác.

Đúng hôm có người đến bắt thì họ phát hiện Ki đang có chửa, vậy là ba anh em nhà Đốm đã kịp thời cứu mẹ nó.

Song Ki nuôi con lần đầu nên vụng về, lại thêm đợt nước lớn từ trận lụt lịch sử năm 2008, bà chủ không bao quát được hết nên hai con dính lạnh và chết. Do nhà gần đầm, nhiều cá chết dạt vào, con Ki ăn phải, bị đường ruột, chẳng bao lâu sau cũng qua đời, còn mỗi Đốm sống sót.
 




Càng lớn nó càng xinh đẹp với bộ lông vá màu nâu, nom quý phái, ăn uống thì nhỏ nhẹ, sủa tiếng cũng thanh. Nhưng vì mọi người đi làm suốt, nhiều lúc thấy Đốm lủi thủi sau tường cao cổng kín, cũng tội, bà chủ quyết định tìm bạn cho nó. Vài hôm sau con Mực đến, nó là con chó nhí nhảnh, lanh chanh, vừa mới đến chắc đói nên nhót ngay ra đĩa thức ăn của Đốm. Đốm vui vì giờ đã có bạn, nên rộng lòng nhường hết. Nó chăm sóc, trêu đùa và dạy dỗ con Mực dịu dàng như một người mẹ, người chị mẫu mực.

Thời gian trôi đi, con Mực trưởng thành, trở nên dũng mãnh, khỏe mạnh với màu lông đen bóng, cùng tướng đi khệnh khạng và đôi tai thính lạ lùng. Có tiếng động lạ là nó sẵn sàng chĩa mõm về hướng ấy sủa inh làng nước lên để báo động. Giờ cô cậu chủ hay đùa Đốm và Mực được ví như thuyền quyên sánh với anh hùng.

Chẳng biết chúng có “yêu” nhau không nhưng hai con rất hòa thuận, phân chia ranh giới rõ ràng, tối đến là ngủ chung trong một chiếc chuồng bé tí, lý ra chỉ được phép nhốt một con.

Song, sau vài lần con Mực “phóng túng”, đã biết lấy mõm để đẩy chiếc then cài cổng. Thấy “gái” nào đi qua cũng te tái chạy theo ve vãn, lần còn đi chơi đến hôm sau mới mò về. Có đợt nó lại đi miết tận hai ngày, làm ai cũng tưởng đã mất. Cụ chủ bực mình nhờ người đến tước đoạt năng lực làm cha của nó.

Bọn trẻ về thấy hai con buồn thiu, tai cụp xuống mà không hiểu vì sao. Nhìn đôi mắt chúng bà chủ thấy áy náy vì đã không kịp ngăn cụ chủ.

Sau đó, con Mực ít đi hoang hẳn, giờ ở đâu hai con cũng có nhau, cùng nô đùa vui vẻ. Con Đốm vẫn ân cần, điềm đạm nhường đồ ăn cho Mực như xưa, nó còn tỉ mẩn dùng răng cắn bắt rận cho con Mực.

Thế rồi sáng hôm ấy, cậu chủ vội đi nên không khóa cổng, gió đẩy vào, Mực ta thấy thế thì ra ngoài ngó nghiêng cậu chủ, vậy mà bị bọn trộm chó vợt mất.

Từ đó, con Đốm ủ ê không chịu ăn uống, người nó héo hon. Chẳng bao lâu sau trên thân nó xuất hiện những đốm chốc lở, lông cứ rụng từng mảng nên kết luận nó bị ghẻ. Bà chủ chăm sóc, tắm rửa, rồi mua thuốc để trộn vào thức ăn nhưng nó nhất quyết không ăn tí gì.

Một sáng bà chủ dậy sớm thấy Đốm nằm phủ phục phía ngoài cổng, nhìn cái đầu nghẹo, không động cựa bà biết nó đã tắt thở. Cậu chủ chạy ra nhìn rồi buồn bã lẩm bẩm: “Không phải Đốm chết đâu, là nó đang ngủ thôi, nó ngủ để còn nằm mơ thấy con Mực đấy”.

TSL

Món ngon của... rừng

Cư dân bản địa Tây Nguyên từ bao đời nay luôn sống trong sự đùm bọc, che chở của rừng.
Họ gọi rừng là “bà mẹ” đầy ân sủng, vì từ nguồn tài nguyên này đã cho con người ở đây nguồn sống dồi dào, phong phú.

Những mớ rau, mụt măng, đọt mây, trái cà đắng… từ lâu là nguồn lương thực không thể thiếu trong bữa ăn hằng ngày, và giờ đây, những đặc sản đó đang trở thành món ngon của rừng dâng tặng thực khách gần xa khi tìm đến với vùng đất Tây Nguyên.

Khó quên vị đắng đọt mây

Vị đắng khó quên từ những đặc sản của rừng mang lại không chỉ có cà đắng, măng le… vốn đã quen thuộc lâu nay, mà còn có những đọt mây mọc hoang chằng chịt trong rừng. Người ta chọn những đọt mây non tơ, bụ bẫm (dài khoảng ba bốn gang tay) mang về tước bỏ phần vỏ lá, sau đó nướng lên cho mềm rồi xé nhỏ từng sợi để nấu với nhiều loại thực phẩm khác như cá, thịt, mắm… đều tạo nên những món ăn ngon.

Đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ ở Tây Nguyên xưa thường nấu đọt mây với cá khô, thịt khô treo sẵn trên giàn bếp. Và cái thứ thức ăn (khô hoặc nước sền sệt) này cho người ăn vị đăng đắng khó quên. Nhiều người bảo ăn đọt mây vào sẽ trị được bệnh sốt rét, tiêu chảy đường ruột. Điều đó đã được kinh nghiệm thực tiễn từ đời sống ẩm thực của cư dân miền núi ngày xưa chắt lọc ra. Thật kỳ lạ: “kinh nghiệm” ấy là cả một sự khảo cứu, kết luận nghiêm túc của tri thức dân gian, bởi khi giở cuốn “Những cây thuốc Việt Nam” của giáo sư Đỗ Tất Lợi thì mới rõ rằng đọt mây rừng hàm chứa đầy đủ những dược tính trên.

Ngày nay món ăn đọt mây đã hiện diện trong các nhà hàng, từ bình dân cho đến sang trọng cũng nhờ sự kết hợp đặc biệt của nó-vừa là món ăn, vừa là vị thuốc trị bệnh công dụng. Xét về mặt văn hóa ẩm thực, đọt mây rừng không còn là món ăn dân dã, bình dị của thiểu số người sống và gắn bó với rừng, mà nó đã đi xa hơn và có mặt trên các bàn ăn đầy “cao lương, mỹ vị”. Này nhé: đơn giản thì đọt mây nấu với cá hộp, thịt hộp…hoặc xé nhỏ từng sợi làm gỏi gà, khô nai, khô cá, mực. Cầu kỳ hơn thì luộc lên cho bớt đắng, sau đó cắt nhỏ như hạt lựu hầm với các loại thịt.

Những món ăn được chế biến từ đọt mây đang trở thành “đặc sản” hấp dẫn thực khách tại nhiều khu du lịch, nhà hàng ở Tây Nguyên. Tại Dak Lak, bạn đến khách sạn Yang Sing, Khu du lịch văn hóa-ẩm thực buôn Akô D’hông, thậm chí Bạch Mã, Tuấn Đạt… đều có những món ăn này. Sang Khu du lịch Đồng Xanh (Gia Lai), Măng Đen (Kon Tum), hay về Gia Nghĩa, Nâm Nung (Dak Nông) thì đọt mây càng là sự chọn lựa không thể thiếu trong những bữa tiệc đãi khách phương xa. Thế mới biết từ sản vật của rừng đã cho con người nguồn sống đi cùng với cảm giác khám phá và thưởng thức nó thú vị và phong phú biết dường nào!

Ngọt bùi rau dầm tang

Rau dầm tang ẩn mình dưới suối vào sáu tháng mùa khô, đến mùa mưa lại cựa mình trỗi dậy. Những mầm rau xanh biếc, vươn dài như thể trong thời gian mùa khô nó đã tích tụ biết bao dưỡng chất của đất, của nước để dâng hiến cho con người có cái ăn dằn bụng trong những ngày dầm dề mưa rừng trút xuống. Cũng có lẽ sống cuộc sống như vậy, nên rau dầm tang trông nuột nà, mong manh hơn bất kỳ loại rau rừng nào khác. Cọng rau giòn dễ gãy, lá như lá răm và cũng dễ bị bầm úa, tổn thương, nhưng lại có vị ngọt bùi khó tả.

Dầm tang không dùng để ăn sống, mà phải nấu nhừ lên cùng nhiều loại thực phẩm dễ tìm kiếm trong rừng như măng le, củ mài và nấm. Khi ăn vào có vị bùi nơi đầu lưỡi, một lúc sau thấm ngọt nơi cổ họng. Có người bảo rau dầm tang trong rừng giống như cây cải cay ở trong vườn tược miệt đồng bằng vậy - một khi thưởng thức đều thi vị vì nó khai mở cho người ăn nhiều cảm giác: đắng - cay, ngọt - bùi…đều có cả.

Không nghi ngờ gì nữa, rau dầm tang không những là nguồn thực phẩm thông thường, mà còn là món gia vị của rừng ban tặng. Nấu bất cứ món gì được cho là đặc sản của rừng (từ măng le, củ mài, nấm…đến cá, thịt thú rừng các loại) đều không thể thiếu dầm tang. Tùy theo từng món ăn mà người ta cho vào lượng rau dầm tang ít hoặc nhiều. Chẳng hạn, để cho tô canh cá suối được thơm ngon hơn, chỉ cần thái nhỏ một nắm rau dầm tang bỏ vào (như hành ngò) là được.

Còn muốn có một nồi thịt (hoặc lòng) hầm lên béo ngậy và thơm lừng, phải cho thật nhiều dầm tang vào thì sẽ được như ý. Hơn thế, loại rau này là một phần không thể thiếu trong món muối chấm của đồng bào các dân tộc thiểu số Tây Nguyên xưa nay. Món muối chấm (với các loại thịt, cá nướng) ấy ngon đến nỗi các nhà hàng, khách sạn hiện nay đặt hàng từ các nghệ nhân ẩm thực người dân tộc thiểu số để đưa vào “menu” nhằm câu thực khách. Bất kỳ ai được thưởng thức một lần đều không thể nào quên mùi vị rất riêng và độc đáo của nó.

Đến bây giờ, trong những ngày mưa, đâu đó trên các ngả đường Buôn Ma Thuột, vẫn dễ bắt gặp những người đàn ông, đàn bà từ Buôn Đôn, Cư M’gar hoặc xa hơn nữa là Ea Súp ra phố, chở theo những bó rau dầm tang để bán dạo. Họ vừa đi vừa rao: Ơ…! dầm tang, dầm tang…

Du lịch, GO! - Theo Phương Đình (Đák Lắk Online), ảnh internet

Thứ Năm, 4 tháng 10, 2012

Những nẻo đường Tây Nguyên (1): Gia Lai

Lang thang qua những nẻo đường của quê hương, bám đèo leo núi, để chỉ lặng mình nhìn trời nhìn đất, lặng ngắm cảnh đẹp hoang sơ của núi rừng đất nước. Lặng im trong tình người mộc mạc thiết tha, để cảm nhận được đất nước mình vẫn còn thật nghèo, nhưng đẹp biết bao. VYSA xin được giới thiệu đến các bạn loạt bài nhật ký lữ hành qua các vùng đất Tây Nguyên của bạn Haggard04. (Ảnh minh họa do bạn Iceberg đóng góp)

Giở nhật ký lữ hành ra và đọc lại, thấy nhớ những chuyến đi, nhớ những vùng đất từ tấp nập đến heo hút, từ phồn hoa đến nghèo khó, từ nguyên sơ đến hiện đại. Những chuyến đi không chỉ là lang thang nhìn cảnh, nhìn người mà còn để thêm hiểu, thêm yêu từng mảnh đất đã đi qua.

Mình muốn viết về những vùng đất ở Việt Nam, những vùng đất mình đã đi qua, những vùng đất đã mang lại cho mình rất nhiều cảm xúc, ghi lại những ngày tháng sôi nổi đã qua.
Gia Lai (tháng 6,7, 8/2005)

Nhận được thông báo đi Gia Lai tiền trạm, mình háo hức vô cùng, Tây Nguyên hùng vĩ, Tây Nguyên hoang sơ, nơi Biển hồ lộng gió và xanh biếc như cặp mắt của thiếu nữ Bana. Tây Nguyên trong trí tưởng tượng của mình là như vậy.

Xe khởi hành lúc 7h30 tối, đoàn đi có 6 anh em và chú lái xe là thiếu tá quân đội về hưu vui tính. Dọc con đường Bình Phước lầy lội, trời mưa tầm tã, tối mù mịt, sự háo hức ngắm cảnh dọc đường của mình bị nhấn chìm, co gối lại và ngủ.

Mưa tạnh, trời trong sáng đến lạ, tưởng đã sáng nhưng xem đồng hồ mới có 3h, ngạc nhiên và thích thú nhìn ra cửa kính. Trăng sáng, sáng lấp lánh trên đầu, trăng mềm mại chiếu khắp đồi núi gập gềnh, ánh trăng lẫn trong sương núi giăng ngang xe, lùa cả vào trong xe mang lại hương đêm lành lạnh và trong lành. Trăng bạc ngập trong sương bạc, giăng giăng từng ngọn thông thẳng tắp, cảnh đẹp hơn cả sự mong đợi của mình.

Sáng 6h tới Pleiku, không khí cao nguyên dễ chịu trái ngược với cái nắng tháng 6 gay gắt của Sài Gòn. Ăn sáng xong chị bí thư tỉnh đoàn đưa xuống Kongcharo va Iamron- 2 huyện khó khăn của tỉnh. Xe bám đèo chạy quanh những khúc cua đầy thử thách. Đường hẹp mà xe cứ lao băng băng, môt bên là núi cao, một bên là vực thẳm, cả trăm km.

Từ Pleiku xuống đến Kongcharo (Kon Chro?) khoảng 120km hầu như đường đèo núi, chỉ đi qua 2 thị trấn nhỏ, muốn mua thêm một cuộn phim mà cũng không có (hic, cái máy ảnh kĩ thuật số lại hết phin). Đến Kongcharo thì bác bí thư huyện đoàn đã ngồi cạnh một nâm cơm …cây nhà lá vườn bao gồm gà rừng nướng, một số món đặc sản và…chịp! một ghè rượu cần loại rượu bobo ủ đủ ngày đủ tháng mới lấy trong bản ra!

- Ôi cái ông này, vừa mới xuống đã bắt uống rượu thì vào bản sao nổi – chị bí thư tỉnh đoàn đon đả
- Ơ, cái con mụ này! Tau là tau đãi cán bộ chứ có đãi mầy đâu _anh bí thư…đẹp trai lên tiếng.

Quái! Cái ông này mà người dân tộc á, chưa kịp thắc mắc thì ông ấy đã cười khì khì đứng dậy chào đoàn bằng giọng Bắc rất chuẩn và nhìn cái mặt ngẩn tò te của mình rồi phán “đội trường mà bé như con cá cảnh thế này thì phải cẩn thận đấy”

- Em chả sợ – mình nhe răng cười

Hỏi tới hỏi lui, hoá ra lại là bác đống hương với mình, lại chưa vợ, chịp! chịp!
Lùa vội ..mấy miếng thịt gà, sếp nói, ghè này khi làm việc xong thì chiến đấu, giờ trưa rồi, không nhanh vào đến bản thì tối mất.

Gớm thật, cái tiết trời Gia Lai nó như lừa người ấy, sáng mới mát mẻ thế mà đến trưa thì nóng như lửa đốt, đang hí hửng được chui lại vào xe máy lạnh mát rượi thì bác huyện phán câu xanh rờn “Cái con xe đại tiểu thư này không lết nổi vào bản đâu, anh em mình đi xe Jep thôi”. Vậy là 6 anh em cộng thêm anh tài, anh huyện và chị tỉnh nữa tha nhau lên một con xe mà cứ xóc một cái là có nguy cơ bị bắn ra ngoài, người chen người, mỡ của cả đoàn là thi nhau chảy xối xả.

Xe lướt đi trong cái ngột ngạt khủng khiếp ấy với tốc độ khoảng 12km/h, đường chưa làm, toàn đá mẹ đá con (mà đá con là con khủng long của đá mẹ) khi xe xuống suối cạn thì anh em nín thở sợ…trượt mà xe lên dốc suối thì anh em lại nín thở sợ lật. Lê lết thế nào mà cả đoàn vẫn còn sống đầy đủ khi vào đến xã Đaksông. Vừa vào đến mấy nương đầu xả thì mình đã thấy thấp thoáng mấy bác…mặc khố lấp ló trên những …thửa đất cao cao, thề là cao quá nên mình…chả thấy gì hết, hehe.

Vào đến xã, mấy bác xã nói một hồi mặt mình ngu hẳn, chả hiểu nói gì, anh huyện nhe răng cười “Ơ, cái cô này, tiếng kinh mà còn không hiểu hay anh bảo nói tiếng Bana nhá” . Cuối cùng nhờ sự nỗ lực hết mình, mình cũng nghe được rằng các chú ấy muốn …mời cơm! sướng thế chứ, tới đâu cũng ăn, mà không ăn thì sợ…người ta buồn.

Anh huyện phán: – giờ đi xem tình hình mấy bản quanh đây đã, chiều tối về rồi ăn, mà mấy ông cũng đừng bày vẽ thịt gà làm gì, đoàn hôm nay chỉ thich ăn món đặc sản chỉ có ở vùng này thôi.

- Khong an ga thi may bao lam mon gi (là các bác ấy nói không dấu đấy nhá)
- Cán bộ hôm nay chỉ thích món lòng gì xào cà đắng thôi.
Khổ thân các bác xã thật thà, không cho làm thịt gà thì ở cái xử không chợ này kiếm đâu ra lòng gà cho cán bộ xơi, đấy, cái thâm thuý của bác huyện là như thế đấy!

Nói thì nói vậy, cả đoàn không nhận lời ăn cơm ở Đaksông vì từ 2h chiều đến tối phải đi hết 2 xã nghèo nhất huyện là Đaksong và Sơró. Cả đoàn ì ụp lội qua con suối trong vắt và mát lạnh để đi sang bản Kso. Nước trong quá, lại đang khát nước tính vục một ít nước lên uống thì anh “thanh niên địa phương” đã cản lại “uống là bị sốt rét rừng đấy” – hết dám ho he!

Sang đến bản, một bày trẻ con lếch thếch kéo đến vây quanh, theo đoàn tới nhà rông. Nhà sàn của người Bana thấp nhưng dài, nhà rông cũng vậy, đây là nét đặc trưng rất dễ phân biệt với các dân tộc khác, thường thì chỉ 3 bậc đến 5 bậc là tới sàn. Nhà rông của bản Kso vẫn còn giữ được nguyên hiện trạng truyền thống với lối kiến trúc đơn giản, trang trí thú sơ sài (một cái đầu khỉ ở cột) bên trong là những cây nêu, những phiếm gỗ rât lớn vẽ hình và được gọi là khiên. Một bếp lửa lớn giữa sàn nhà cạnh bếp là một cửa thông nhỏ (như cửa sổ).
Nhìn qua lớp ván gỗ, mình rợn cả tóc gáy khi thấy nhiều cỗ quan tài lớn nhỏ khoét từ những thân cây lớn mà thành. Nhìn kĩ thì mới thấy đều là quan tài rỗng, chắc là để dành khi “hữu sự”.Đi một vòng quanh làng, thấy nhà nào cũng khoét sẵn mấy cái cỗ quan, khi chưa dùng để đựng ngươi thì đồng bào ta đựng..nước uống!

Nắm được sơ qua Kso, đoàn hành trình lên Kte. Làng này nghèo nhất xã, xã lại nghèo nhất huyện, mà huyện anh hùng Kongcharo thì lại nghèo nhất tỉnh. Vậy nên theo logic mà suy ra thì cái lòng Kte nghèo nhất tỉnh, một trong những cái tỉnh nghèo nhất nước! Mấy chục móc nhà sàn xiêu vẹo, nhà rông cũng tiêu điều, xơ xác, bà con Kte sống lại xa nguồn nước, muốn đi lấy nước phải xách gùi hơn 3km. Anh huyện cảnh báo, Kte là một làng nhạy cảm nhất do địa hình heo hút, trong làng chỉ 1,2 ngươi nói được tiếng Kinh, bà con lại thật thà như đếm, nếu gặp một chút phật lòng thì hậu quả rất đáng tiếc – một nét gạch đỏ trong sổ – bà con thương mình là được rồi.

Lấn cấn mãi, trời tối, biết là không xong việc nhưng không muốn phiền bà con, cả đoàn kéo nhau về huyện. Lòng mình ngổn ngang lo lắng suy nghĩ, có lẽ nhờ vậy mới không chết khiếp cái con đường nguy hiểm mà xe đang trèo, đang bò từng km.

Còn tiếp
Những nẻo đường Tây Nguyên (1): Gia Lai
Những nẻo đường Tây Nguyên (2): Pleiku
Những nẻo đường Tây Nguyên (3): Rượu Ghè Bana
Những nẻo đường Tây Nguyên (4): Núi rừng Tây Nguyên
Những nẻo đường Tây Nguyên (5): Kongcharo
Những nẻo đường Tây Nguyên (6) : Đà Lạt

Haggard04
Du lịch, GO! - Theo Vysa, ảnh bổ xung từ internet

Biển trời địa đầu Sa Vĩ

Nếu vẽ bản đồ Việt Nam, có lẽ nơi đặt nét bút đầu tiên chính là mũi Sa Vĩ thuộc Trà Cổ (Móng Cái, Quảng Ninh). Trải qua bao thăng trầm cùng dân tộc, điểm đầu Sa Vĩ vẫn hiên ngang như một minh chứng trường tồn trước thời gian:
“Hùng vĩ thay toàn thân đất nước,
Tựa Trường Sơn vươn tới Trường Sa.
Từ Trà Cổ rừng dương tới Cà Mau rừng đước,
Đỏ bình minh mặt sóng khơi xa...”.

Sa Vĩ không chỉ nổi tiếng với 2 câu thơ của Tố Hữu: “Từ Trà Cổ rừng dương đến Cà Mau rừng đước/ Đỏ bình minh mặt sóng khơi xa...” mà còn có ý nghĩa đặc biệt về biên giới lãnh thổ: Nếu điểm cực Bắc biên giới đất liền thuộc xã Lũng Cú (Đồng Văn, Hà Giang), thì đường biên giới biển khởi đầu tại Sa Vĩ.

Tại Sa Vĩ, do cột mốc 1377, 1378 phân định biên giới Việt Nam - Trung Quốc nằm ở cửa sông Bắc Luân, khi thủy triều dâng lên mốc cách bờ hàng trăm mét nên hầu hết du khách khi đến đây đều lấy biểu tượng 3 ngọn phi lao trên bức phù điêu dựng ngay trên bờ biển để chụp ảnh với niềm tự hào đã đến nơi địa đầu Tổ quốc.

Trong quá trình phân giới cắm mốc trên toàn tuyến biên giới Việt Nam - Trung Quốc. Nếu như cột mốc đầu tiên trên tuyến biên giới đất liền (ký hiệu 1369) tại đầu cầu Bắc Luân (Móng Cái, Quảng Ninh), khánh thành vào tháng 12-2001, thì cột mốc cuối cùng (1378), mặc dù cũng chỉ đặt tại Trà Cổ (Móng Cái), nhưng mãi đến tháng 11-2009 mới được hoàn thành.

< Biển Sa Vĩ, cột ngoài khơi là cột mốc biên giới Việt - Trung trên biển.

Đến Sa Vĩ - Trà Cổ tận mắt nhìn, lắng tai nghe những câu chuyện có thật do những người dân nơi đây kể, ta lại càng thấy yêu mỗi tấc đất quê hương mà cha ông ta bao đời phải chiến đấu, hy sinh máu xương để gìn giữ cho đất nước. Gánh chịu bao nhiêu khốn khó nơi địa đầu Tổ quốc trong những năm tháng chiến tranh, người dân Trà Cổ vẫn kiên trì góp sức bảo vệ từng tấc đất của Tổ quốc...

Còn bây giờ vùng đất này đã đổi thay nhiều, các khu du lịch mọc lên như nấm trên những đồi cát trắng mịn. Khách du lịch các nơi nườm nượp đổ về để 'cảm' với cái gió Sa Vĩ là gió vi vút từ biển thổi vào, gió rì rào những hàng dương trên cát trắng. Sa Vĩ đón chào du khách với bức phù điêu xanh hình ba ngọn phi lao vươn thẳng lên trời mà hầu như ai đặt chân tới vùng đất thiêng này, dù chốc lát đều muốn được ghé lại lưu giữ hình ảnh của mình.

Xa xa trên biển, cột mốc biên giới Việt-Trung đánh dấu chủ quyền hai bên, trầm ngâm sóng đánh. Nhìn xa hơn, vào những ngày trời trong biển lặng, có thể nhận ra hình hài nhấp nhô của làng Việt cổ Vạn Vĩ, nơi những người Việt ở Đồ Sơn (Hải Phòng) đã đến định cư suốt 500 năm nay. Nhiều người trong số họ đã trở về Sa Vĩ để thấy mình “cùng đón bình minh và cùng ngắm hoàng hôn” với Vạn Vĩ. Nằm cạnh đường ô tô ra biển, nhà thờ Trà Cổ - điển hình của phong cách kiến trúc châu Âu, đẹp một cách cổ điển giữa những làng mạc dân dã.

Đứng ở mũi Sa Vĩ địa đầu Tổ quốc, phóng tầm mắt ra xa có thể chiêm ngưỡng được vẻ đẹp của bờ biển Trà Cổ cong và dài 17 km. Trà Cổ được mệnh danh là bãi tắm dài và lãng mạn bậc nhất Việt Nam. Những dự án du lịch, vui chơi giải trí lớn nhỏ xuất hiện giữa làng chài. Nhiều gia đình bị cuốn vào cơn lốc hội nhập, vội vã bỏ chài lưới vào gác bếp, lao vào làm du lịch những mong đổi nghề, đổi đời.

Sa Vĩ ngày nay không chỉ có cát, cá tôm mà còn có cả sân golf, khách sạn. Đất đai bên đường từ Móng Cái vào Trà Cổ tăng giá vùn vụt. Nhiều dự án du lịch, vui chơi giải trí lớn nhỏ được khoanh đỏ trên tấm bản đồ làng biển. Trà Cổ từ một xã thuần nghề ngư, đến nay trên 60% số gia đình trong phường Trà Cổ đã biết làm du lịch và dịch vụ. Hiện làng biển có khoảng 45 nhà nghỉ đang hoạt động với gần 600 phòng với mức doanh thu tăng đều mỗi năm.

Khách tắm biển dù không nhiều nhưng đủ để rực rỡ sắc màu trên cát trắng như một điểm nhấn hiện đại. Nhà hàng bên bờ biển Trà Cổ nằm rải rác, giá cả dễ chịu, không “chặt chém” như các nơi khác. Những bữa tiệc hải sản bên bờ biển, gồm những tôm, ghẹ, bề bề, ốc, mực... có dư vị khó tả, vì sự tươi ngon của thực phẩm, sự niềm nở của người bán và cả không khí trong lành, thuần khiết của một vùng biển chưa mất hẳn chất dân dã.

Người dân Trà Cổ vẫn còn lưu giữ ngôi đình có niên đại hơn 500 năm. Cụ già trông đình có tên gọi Vũ Tiến Nồng kể rằng: ngôi đình là tài sản vô giá mà cha ông từ 500 năm trước đã để lại. Đình được xây dựng từ thời hậu Lê (thế kỷ XV). Mặc dù được xây dựng tại vùng biên giới giáp với Trung Quốc nhưng đình Trà Cổ hoàn toàn mang phong cách kiến trúc Việt Nam, mang đậm chất văn hóa của người Việt, không hề lai căng pha tạp đồng hóa với kiến trúc Trung Hoa, điều này càng khẳng định rằng cha ông ta ngày xưa đã rất coi trọng bản sắc văn hóa dân tộc.

Mặt bằng đình theo kiểu chữ Đinh, tiền đường gồm 5 gian, 2 trái, hậu cung có 3 gian. Mái đình hơi võng, lợp ngói mũi giống như những ngôi đình của các làng quê đồng bằng sông Hồng. Đình gồm 48 cột lim đặt trên tảng kê bằng đá xanh. Cột cái cao 4,65 mét, chu vi cột 1,63 mét. Đình còn có 2 cột bằng đá nguyên khối cao hơn 2 mét.

Trong đình còn hai bức hoành phi lớn sơn son thếp vàng đã xám màu thời gian, trên đó khắc: Địa cửu thiên trường (đất vững, trời dài) và Nam Sơn tịnh thọ (nước Nam bền vững); một bộ kiệu bát cống, 8 long ngai, 02 hạc rùa, một bộ bát biếu, 01 bộ thất sự bằng đồng, 05 bức đại tự, 05 cửa võng... đều được chạm khắc công phu, sơn son thếp vàng và nhiều hiện vật có từ thời Lê, Nguyễn. Đình được trùng tu, sửa chữa nhiều lần để thờ thành hoàng làng là 6 vị tiên công có công xây làng, lập ấp.

Theo các bô lão trong làng truyền lại, thì tổ tiên xưa vốn là người Đồ Sơn (Hải Phòng) làm nghề đánh cá. Trong một lần đi biển, gặp sóng to gió lớn, 12 gia đình đã trôi dạt vào đây. Trước cảnh hoang vu, chỉ toàn sú vẹt, lau sậy cùng những đồi mua, đồi sim, có 6 gia đình đã chán nản nói: "Ở đây ăn bổng lộc gì?/Lộc sim thì chát, lộc si thì già". Nhưng 6 gia đình còn lại lại lạc quan, tin tưởng vào vùng đất tuy vắng vẻ nhưng khung cảnh đẹp, nên đã trả lời: "Ở đây vui thú non tiên/Tháng ngày lọc nước lấy tiền nuôi nhau". 6 gia đình ra đi, 6 gia đình ở lại khai phá miền đất mới, sinh làng lập ấp..."

Rời làng biển, vẫn con đường thẳng tắp tràn ngập vị mặn mòi của biển, trước mặt chúng tôi chính là mũi Sa Vĩ. Tấm biển “Vành đai biên giới” nằm ngay cuối con đường, nơi nhô ra phía biển như ngón tay chỉ về đại dương xa ngút mắt. Ngay chót mũi Sa Vĩ, phía tay trái có một mảnh vườn nhỏ trồng rất nhiều cây. Đó là khu vườn do các nguyên thủ quốc gia trồng khi về thăm điểm đầu tiên của dải đất hình chữ S. Chúng tôi ngắm những hoa sim, hoa mua như cũng tím hơn trong chiều biên giới, giẫm chân lạo xạo trong bùn cát và hưởng trọn nắng gió biển trời Sa Vĩ.

Mũi Sa Vĩ ngày trước chỉ có bộ đội biên phòng ngày đêm tuần tra bảo vệ và người dân trong vùng qua lại đánh cá bắt tôm thì nay cũng trở thành một trong những điểm du lịch hấp dẫn du khách trong và cả ngoài nước. “Từ Trà Cổ rừng dương đến Cà Mau rừng đước”. Nhúm một nhúm cát, nhặt lên một hòn đá cuội, nắm chặt trong tay mình để thấy cát và đá cũng ấm tình Tổ quốc. Tôi mang hai vật ấy cất vào ba lô mang về đặt lên bàn làm việc. Tôi tin chắc rằng, mỗi khi nhìn thấy cát và đá tôi lại nhớ về Sa Vĩ, nhớ về Trà Cổ, về nơi đã lưu giữ một phần tâm hồn mình, để lại nhen nhóm và thu xếp thỏa mãn khát vọng lên đường khám phá những mũi Cà Mau, cột cờ Lũng Cú, những điểm cực khác của Tổ quốc mình và trân quý hơn những vẻ đẹp muôn hình muôn sắc khắp dải đất hình chữ S thân yêu.

Du lịch, GO! - Tổng hợp từ internet

Trà Cổ nằm ở cực Đông Bắc đất nước thuộc tỉnh Quảng Ninh, kề sát biên giới Trung Quốc, cách thị xã Móng Cái và cửa khẩu Móng Cái chừng 10km.

Có thể đến Trà Cổ bằng nhiều cách khác nhau. Bằng ca nô hay tàu thủy chạy từ Hải Phòng đến Móng Cái với quãng đường hơn 200 km hoặc từ Hòn Gai với hành trình 132km, bạn sẽ đến bãi biển Trà Cổ. Nếu bạn đi đường bộ thì có thể lên ôtô từ Hà Nội, theo đường 18, Hà Nội - Hòn Gai đến Tiên Yên rồi rẽ đường số 4 đi thị xã Móng Cái để ra bãi biển Trà Cổ...

Nhớ con cá đối

Không “nhớ” sao được khi con cá đối đã trở thành món ăn, lại là món ăn ngon. Xưa kia, quê tôi nằm sâu trong đất liền, lại là một vùng đất nghèo nàn, đường sá đi lại rất khó khăn. Nơi này muốn có con cá đồng đã khó, huống gì có được con cá biển của một vùng “khơi xa”. Cho nên, khi có dịp “tiếp cận” với con cá đối lần đầu tiên trong đời, tôi đã “bàng hoàng” bụng dạ.

Lần đó, tôi đến nhà người bạn ở một miền duyên hải Trà Vinh và được chị ấy đãi một món ngon nhớ đời từ con cá đối.

Tôi đến thăm chị bất ngờ, lại nhằm lúc gia đình chị sắp dùng bữa. Gia đình chị mời ăn, là người Nam bộ, tôi không chối từ một cách khách sáo. Là bữa cơm gia đình nên chỉ có vài món thông thường, nhưng tôi đặc biệt chú ý đến một tô cá ở một góc bàn, lúc nào cũng tỏa một mùi vị là lạ.

Gắp một đũa, cho vào miệng, chưa kịp nhai, tôi đã “nghe” món ăn hình như chạy tuột xuống tận dạ dày với mùi thơm, vị cay, vị mặn của tiêu hành tỏi ớt, đặc biệt là vị ngọt của thịt cá. Thịt cá bở mà không mềm, mềm mà không nát, cứ như miếng thịt cá mòi “tan rã” trên đầu lưỡi tôi. “Lợi dụng” là chỗ hết sức quen thân, nên tôi không cần giữ gìn ý tứ gì cả, cứ việc gắp món ngon.

Khi đã thỏa mãn cái dạ dày rồi tôi mới hỏi chị bạn đó là món chi. Chị ấy thản nhiên cho biết đó là món cá đối hấp. Theo chỉ dẫn của chị, để có món cá đối hấp, cần có những con cá thật tươi. Cá làm sạch, cho vào tô, ướp tiêu, tỏi, hành tím bằm, đường, nước mắm, bột ngọt… rồi cho vào nồi. Hấp cách thủy trên ngọn lửa riu riu chừng vài tiếng đồng hồ là đã có món ăn.

Lần thứ nhì, vào dịp cận Tết Nguyên đán, tôi đi Gành Hào (Bạc Liêu) thăm người bà con. Trong bữa cơm bình thường của gia đình chị, tôi chú ý nhất đến tô canh cá đối hầm dưa cải. Dưa cải ở đây được muối tại nhà nên có vị chua và giòn mà dưa cải ngoài chợ không thể sánh bằng. Vị chua của dưa cải hòa cùng vị ngọt của những con cá đối bự cỡ cườm tay vừa mới bắt lên từ biển sao mà ngon ngọt quá chừng.

Thịt cá nhừ mà không nát. Dưa cải mềm mà không nhũn. Lại còn cái mùi hành lá thoang thoảng thơm nữa chớ. Húp một muỗng canh khoái bao nhiêu thì chan nước canh vào cơm, lùa miếng nào nuốt gọn miếng nấy mới đã đời!

Lần thứ ba là lần ra miền biển trong khá nhiều lần trong đời của tôi. Đó là chuyến đi thăm Mũi Cà Mau - một mũi đất thiêng liêng rất nổi tiếng của nước ta. Đến Cà Mau nhiều lần, được thưởng thức không ít những hàu, vọp, cá chốt, cá nâu, cá khoai, cá dứa… chế biến thành nhiều món, món nào cũng để lại dư vị hoài cảm trong tôi. Lần này, vào buổi trưa, lại nhằm lúc nhà hàng thủy tạ nơi Mũi Cà Mau quá đông khách, kêu món đặc sản nào cũng được trả lời gọn lỏn: “Thưa, hết”. Hỏi gằn thì còn mấy con ghẹ đỏ và khoảng chục con cá đối để chiên xù.

Ờ, thì ghẹ luộc và cá đối chiên xù vậy. Dĩa ghẹ đỏ luộc dọn ra. Ghẹ đỏ tuy không ngon bằng ghẹ xanh, nhưng vì đói bụng nên cũng ngon. Nhưng ngon quá xá lại là món cá đối chiên xù. Món này làm dễ. Mấy con cá đối làm sạch ruột, rửa sạch, để ráo rồi thả vô chảo dầu đầy. Trong chốc lát thân cá trở màu vàng với những chiếc vẩy cá “xù” lên.

Chỉ có vậy mà khi dẽ thịt cá chấm nước mắm nhĩ giằm trái ớt hiểm cho vô miệng, nhai, ngon ơi là ngon. Thịt cá ngọt lừ, còn xương và vẩy cá thì giòn tanh tách như nhảy múa trong răng. Càng ngon hơn khi ăn với cơm nóng còn tỏa hơi nghi ngút.

Chỉ với ba món thôi, cá đối đã nằm sâu trong ký ức ẩm thực của tôi, không thể phai mờ. Những buổi chiều mưa lất phất, trời đất lành lạnh, là lúc tôi nhớ tới những con cá đối. Trời đất như vầy, nếu được ăn cơm với một trong ba món vừa kể, có thể nói không hạnh phúc nào sánh bằng.

Du lịch, GO! - Theo Phương Kiều (Haugiang online), internet

Mùa tam giác mạch

Hằng năm cứ vào tháng 10, các bạn trẻ lại bắt đầu hỏi nhau “Khi nào tam giác mạch nở?”. Hành trình đến với Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng - ba địa danh nổi tiếng với "loài hoa" tam giác mạch - trở nên nóng hổi trên các trang mạng xã hội.

Bạn đã thu xếp lịch trình cho mùa tam giác mạch chưa?

Tam giác mạch là loại kiều mạch thân cỏ được bà con vùng cao gieo trồng trên các vách núi và thung lũng, một năm hai vụ, vào khoảng tháng 4 và tháng 10.

Tuy không có năng suất cao nhưng là cây trồng truyền thống của cộng đồng các dân tộc trên rẻo cao phía bắc. Hạt tam giác mạch được dùng làm bánh, nấu rượu, ngày nay chủ yếu để chăn nuôi gia súc, ngoài ra còn dùng làm vị thuốc trong đông y.

Với nhiều du khách, hình ảnh những thửa ruộng tam giác mạch nở hoa lộng lẫy giữa khung cảnh núi non hùng vĩ là điểm nhấn ấn tượng trong hành trình phiêu du. Đây cũng là một đề tài được nhiều nhiếp ảnh gia khai thác say mê.

Thời gian: Với điều kiện giao thông khá tốt hiện nay, hai ngày ba đêm cuối tuần là có thể thu xếp một hành trình ngắm hoa khá ổn. Bạn nên di chuyển bằng xe khách chạy đêm từ Hà Nội lên Cao Bằng, Hà Giang và ngược lại, chi phí khoảng 200.000 đồng/khách/chiều.

Chú ý kiểm tra thông tin thời điểm tam giác mạch nở rộ để có được một chuyến đi “no mắt” và đủ đầy về màu sắc. Thông thường hoa sẽ nở rộ vào cuối tháng 10, đầu tháng 11, tùy thời điểm gieo trồng của bà con trước đó. Hoa tam giác mạch có vòng đời khoảng một tháng, mới đầu hoa nở có màu trắng, sau chuyển sang phớt hồng, ánh tím và cuối cùng là đỏ sậm. Riêng các ruộng tam giác mạch ở Cao Bằng phần lớn hoa màu trắng.

Các địa điểm nổi tiếng với tam giác mạch:

• Ở Lào Cai, các huyện phía bắc giáp với Hà Giang như Simacai, Bát Xát, Bắc Hà, Mường Khương đều có gieo trồng tam giác mạch nhưng ít hơn Hà Giang nếu so về quy mô, mật độ.

• Ở Cao Bằng, Trà Lĩnh - Trùng Khánh là hai điểm đến trồng nhiều tam giác mạch.

• Hà Giang: nổi tiếng nhất với quá nhiều địa danh được “đóng đinh” trên bản đồ tam giác mạch bởi vẻ đẹp sinh động và ấn tượng của cảnh quan như: Hoàng Su Phì, Xín Mần, Phó Bảng, Phố Cáo, Sủng Là, Đồng Văn, Lũng Cú, Ma Lé…

Ngoài việc khám phá cảnh quan mùa tam giác mạch rực rỡ sắc màu, bạn cũng có thêm nhiều cơ hội tìm hiểu cuộc sống người dân bản địa mỗi vùng đất bạn đi qua.

Một vài lưu ý khác:

- Máy ảnh: Là vật dụng không thể thiếu nếu bạn đến với những cánh đồng tam giác mạch. Đây là công cụ hữu hiệu nhất để lưu lại hình ảnh, vẻ đẹp của cuộc sống trên rẻo cao.

- Nếu bạn là con gái: Đừng quên mang khăn váy nhiều màu sắc để có được những bức hình thú vị mang về chia sẻ với bạn bè.

- Hãy sắp xếp lịch trình để có nhiều thời gian nhẩn nha trên những cánh đồng hoa, tận hưởng không khí trong lành, vẻ đẹp tươi sáng của thiên nhiên và chia sẻ những câu chuyện thú vị bên bạn đồng hành. Đừng cưỡi ngựa xem hoa khi đến với mùa hoa cao nguyên.

- Chú ý không giẫm lên hoa hay làm đổ, gãy nát các cây tam giác mạch, tận hưởng thành quả của bà con và không làm ảnh hưởng đến cây trồng của bà con.

- Những cánh đồng hoa tam giác mạch: là địa điểm chụp ảnh cưới lý tưởng, tuyệt vời cho nhiều cặp uyên ương.

Du lịch, GO! - Theo Thái Anh (TTO), internet

[Việt hóa] Download game bóng đá đỉnh cao Real football 2013 cho nhiều size màn hình 128x160,240x320




Dù không được đánh giá cao như FIFA của EA hay PES của Konami, nhưng game mobile Real Football của Gameloft vẫn là một seri bóng đá vào loại đỉnh cao trên iOS. Và seri này sắp cho ra mắt phiên bản mới nhất mang tên Real Football 2013.



Cùng đến 1 bầu không khí bóng đá với đồ họa được cải thiện, hình ảnh động, trình đơn và sân vận động. Với hơn 240 đội bóng và hàng trăm cầu thủ thực sự đã được FIFPro cấp giấy phép. Gameplay có sẵn cho phép bạn quản lý một đội bóng và dẫn dắt nó đến thành công!



Chế độ thẻ mới, nơi bạn có thể mua hoặc làm cho những cầu thủ của mình giỏi hơn. Win bằng xổ số kiếm thẻ và làm cho nhóm của bạn mạnh mẽ hơn và nhiều câu hỏi kiểm tra kiến thức về bóng đá .

Thông tin game:

Tên game: Real Football 2013
Nhà sản xuất: Gameloft SA
Thể loại: Thể thao, Bóng đá
Nền: Java/J2ME
Màn hình: 240×320, 320×240
Ngày phát hành: 19/9/2012
Ngôn ngữ: Tiếng Việt
Dung lương: Tùy phiên bản màn hình

Tải về trực tiếp Mobile:

Tải về PC:

Bản Mod cho nhiều lọai màn hình:

Đây chỉ là bản mod Real fooball 2013 từ phiên bản trước, để sửa lổi của nó và hoàn chỉnh nó ở Real fooball 2013 Ngoài ra, game còn cập nhật các cầu thủ mới chuyển nhượng, thêm tý màu mè và hình ảnh cho Real fooball 2013 và rất nhiều thứ nữa . Hãy khám phá nhé.Phiên bản đủ loại màn hình cho máy của Real fooball 2013

Nguồn :Tổng hợp

Download Pes 2013 Việt hóa



Pes (Pre evolution soccer) là tựa game bóng đá rất nổi tiếng trên PC của hãng game danh tiếng Konami, hiện nay game Pes đã có phiên bản Pes 2013 trên điện thoại. Pes 2013 đem đến cho người chơi nhiều cảm giác mới lạ so với Pes 2012 và đặc biệt trong bài viết này mình sẽ giới thiệu với các bạn phiên bản Pes đã được Việt hóa,làm cho chúng ta được tận hưởng game một cách trọn vẹn nhất.
Ý của bạn là VIỆT HÓA game PES 2013 trên PC??? Xem thêm tại bài viết này :Việt hóa Pes 2013 và update chuyển nhượng mùa giải 2012-2013



Tính năng của Game Pes 2013 việt hóa: 

  • Pes 2013 này phù hợp với máy có độ phân giải 240x320 như Nokia C5-00,2730,6300, 6120, 6110, n73, n77...
  • Game Pes 2013 đã được update các cầu thủ chuyển nhượng trong mùa hè như Kagawa, Powell đến MU hay Podolski, Giroud, Cazola đến Arsenal, hay Hazard đến Chelsea...
  • Game Pes 2013 đã được việt hóa để cho người chơi dễ sử dụng

Xem thêm game Mobile tại đây : Điện thoại di động