Hiển thị các bài đăng có nhãn Suối - thác. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Suối - thác. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 10 tháng 1, 2013

Thác Lụa Hà Lang

Lên tới xã Hà Lang (thuộc huyện Chiêm Hoá, Tuyên Quang) trời đã sẩm tối. Bí thư Đảng ủy xã Ma Văn Lâm nói: “Muốn lên được Thác Lụa phải qua rừng nguyên sinh Cốc Nghè, sáng sớm mai sẽ có người dẫn đường cho nhà báo, nhưng phải chuẩn bị tâm lý trước do đường lên Thác Lụa “bất khuất” lắm”. Tôi hiểu được ngụ ý về những khó khăn, vất vả ngày mai đã được dự báo trong hai từ “bất khuất” của anh.

Bữa cơm tối giữa cán bộ UBND xã Hà Lang và chúng tôi thật dân dã mà ân tình. Chủ quán người dân tộc Tày nâng chén rượu lên bảo: “Hôm nay nhà nấu mẻ rượu nếp nương mới, chén đầu tiên “kin sưởn” - uống hết nhé, từ chén sau thì “Kin cơ huơ cơ đáy” đấy” (nghĩa là: Uống được đến đâu thì uống).

Tất cả cùng nâng chén chúc cho nhau có một sức khỏe dồi dào, một đôi chân dẻo dai để mai lên với Cốc Nghè, Thác Lụa. Bí thư Đảng ủy xã nói: “Đã có người chuẩn bị cơm lam cho bữa trưa mai trên rừng rồi, yên tâm mà đi thôi”. Chẳng biết có phải vì hương thơm ngào ngạt của rượu nếp nương hay vì lòng mến khách của con người nơi đây khiến tôi thấy lâng lâng.

5 giờ sáng hôm sau, từ bản Hiệp mười người đoàn chúng tôi bắt đầu lên đường gồm Bí thư Đoàn xã, cán bộ Trạm Kiểm lâm xã Hà Lang và sáu người dân bản Hiệp. Đích đến cuối cùng là Thác Lụa, nhưng để đi đến được đó chúng tôi phải đi qua rừng nguyên sinh Cốc Nghè.

Chặng đường lên rừng nguyên sinh Cốc Nghè đi bộ chừng 10 km, qua bốn con suối lớn là: Hăm Vè, Nà Thước, Hiệp, Cốc Nghè. Mặt trời đã lên cao, càng vào gần đến rừng nguyên sinh Cốc Nghè càng mát lạnh.

Theo con đường mòn, vượt qua ba con dốc thẳng đứng, chúng tôi phải nhờ vào những đoạn cây làm gậy chống lấy đà đi tiếp. Qua khu rừng mỡ phải có đến hàng trăm cây gỗ to, cao vút. Đồng chí Lê Tiến Chi, cán bộ Trạm Kiểm lâm xã Hà Lang nói: “Qua rừng mỡ là đến rừng nguyên sinh Cốc Nghè rồi đấy”.

Cả đoàn rẽ trái để vào rừng nguyên sinh Cốc Nghè. Con đường mòn không còn. Lúc này cả đoàn mới thấy hết tài nghệ của “Nhà leo núi” Hoàng Seo Nhà, dân tộc Mông bản Hiệp. Đôi chân đã quen với đường rừng cứ thoăn thoắt đạp cỏ rừng, mở đường dẫn chúng tôi đi. Những chùm hoa lan tai trâu, lan đuôi chồn, lan me, lan kiến, lan hài đua nhau bám vào những cây gỗ cao, rủ hoa xuống. Những buồng chuối rừng chín vàng ruộm lơ lửng trên cao. Rau dớn ở đây mọc thành rừng, có chỗ ngọn vươn cao ngang đầu gối. Ở đây cũng có cả những cây kim tuyến, óng ánh muôn sắc màu mọc lên từ đất.

Người dân bản Hiệp trong đoàn cho biết, đây là loại cây chỉ mọc ở những nơi đất ẩm, có nhiều mùn và nếu ở khu rừng bình thường thì hầu như không thấy loại cây này.

Những bước chân của người đi sau cứ theo những bước chân của người đi trước mà bước. Tất cả dụng cụ cần dùng khi lên Thác Lụa đều được các chàng trai bản Hiệp đảm nhận mang theo. Chính họ là những người đi sau cùng giúp đoàn chúng tôi vượt gềnh suối, núi cao an toàn. Ở họ toát lên một sự phóng khoáng, mạnh mẽ, đôi chân trần phăm phăm bước trên những tảng đá nhọn hoắt dẫn chúng tôi đi.

Đi thêm chừng 2 km, phía trước mặt chúng tôi là vô số những cây cổ thụ hàng trăm năm tuổi. Cả đoàn dừng lại bên cây phay to mười người ôm không xuể.

“Từ nhiều đời nay, người dân bản Hiệp đã coi việc bảo vệ rừng như bảo vệ cuộc sống của mình rồi. Người dân bản Hiệp kiên trì bám rừng nên tình yêu với rừng lớn lắm” - anh Lưu Văn Vững, dân tộc Tày, bản Hiệp nói. Đôi chân nhanh như sóc của ông Nhà, anh Vững, chị Thảo cùng đi với chúng tôi có lẽ đã đi khắp những quả đồi, suối sâu ở đây, trong họ đều mang tình yêu với rừng xanh để những cây cổ thụ kia cứ vươn cao mãi, trở thành niềm tự hào của người dân nơi đây.

Đồng chí Lê Tiến Chi, cán bộ Trạm Kiểm lâm xã Hà Lang nói: Để làm được một ngôi nhà gỗ, người dân ở đây phải mất 4 đến 5 năm, có khi cả chục năm ròng mới làm xong. Nguyên liệu để làm nhà được người dân lấy từ các cây gỗ bị gió, bão quật ngã, bị đổ, gãy trôi theo các dòng suối. Bao nhiêu năm nay, làm nhiệm vụ ở địa bàn này anh chưa từng thấy người dân nào chặt cây rừng lấy gỗ cả. Vì thế, rừng nguyên sinh Cốc Nghè cứ sừng sững, hiên ngang trường tồn cùng năm tháng.

Qua đoạn có nhiều cây cổ thụ, ông Hoàng Seo Nhà chỉ cho chúng tôi xem phân khỉ thỉnh thoảng xuất hiện dọc các phiến đá. Ông liền lấy cán dao gõ ba tiếng vào thân cây báo hiệu. Sắp đến Thác Lụa.

Huyền thoại mở ra Thác Lụa

Chúng tôi tiếp tục lên cao hơn qua một lối nhỏ toàn đá, không ít lần chúng tôi phải đu vào các cành cây để leo lên. Thác Lụa!

Cả đoàn ngước mặt nhìn lên. Hình ảnh thật hiện ra mà ngỡ như đang trong mơ. Hàng triệu triệu hạt nước nhỏ li ti từ thác nước như sương phả vào mặt chúng tôi. Tất cả đều trầm trồ, thán phục trước vẻ đẹp tuyệt mỹ của thác.

Tiếp nhận dòng nước của nhiều dòng suối nhỏ, vượt qua bao núi rừng, ghềnh thác, Thác Lụa băng băng, bất ngờ đổ thẳng xuống từ độ cao trên 70 mét để rồi giao hòa cùng với suối Khuổi Muồi, Nậm Bún và hợp lưu với sông Gâm. Nhìn từ xa, Thác Lụa như một dải lụa từ trên trời buông xuống núi. Có thể sẽ còn đa dạng, đa hình phong phú hơn nhiều với sự tưởng tượng và cảm nhận của du khách. Còn với tôi, Thác Lụa giống như một khúc giao tấu hùng tráng của núi rừng hoang sơ.

Người dân ở đây kể rằng: Ngày xưa, có một đôi vợ chồng sống trong rừng già, người chồng rất giỏi săn bắn, một hôm người chồng nhận được lệnh Thiên sứ lên trời làm nhiệm vụ, chàng trai đã đến đỉnh núi Cốc Nghè nhìn người vợ lần cuối và theo Thiên sứ lên trời.

Rồi người vợ cứ chờ đợi và đi tìm chồng. Nàng cũng đến đúng đỉnh Cốc Nghè, nơi Thác Lụa đổ xuống ngày nay mà chờ, mà đợi chồng mặc cho mưa gió, bão bùng. Nước mắt nàng đã chảy thành suối. Câu chuyện ấy đã trở thành huyền thoại về Thác Lụa. Cũng chính vì vậy, mà càng vào những ngày mưa, Thác Lụa càng trong xanh lạ kỳ.

Rừng núi, bản làng, đất đai nơi Thác Lụa chảy qua từ bao đời đã tạo nên một bản sắc văn hóa của các dân tộc Mông, Tày, Dao dưới chân núi Cốc Nghè. Người Mông bản Hiệp sống gắn bó với rừng, vừa có kinh nghiệm canh tác trên nương rẫy vừa có kinh nghiệm canh tác ruộng bậc thang. Người dân tộc Tày ở đây lại có tài bắt cá, đan lát. Đôi bàn tay khéo léo của người phụ nữ Tày có thể dệt nên những chiếc mành cọ độc đáo.

Nơi đây còn gìn giữ và lưu truyền qua bao đời những làn điệu dân ca của người dân tộc Tày, Mông. Cùng đi với chúng tôi có ba cô gái người dân tộc Tày, đứng trước món quà mà thiên nhiên ban tặng, họ cùng cất lên những điệu then nghe tha thiết như gió rừng mênh mang thổi. Tôi tin có thể trong số họ, mai kia sẽ là hướng dẫn viên du lịch trên quê hương mình.

Bí thư Đoàn Thanh niên xã Hà Lang Ma Văn Tích tâm sự với chúng tôi, cách đây hai năm anh đã đến tham quan Khu du lịch sinh thái Thác Đa nằm trong quần thể du lịch nổi tiếng Ao Vua, Khoang Xanh, suối Mơ, suối Tiên (Hà Nội).

Nơi đây được quy hoạch thành một khu vui chơi giải trí, có bể bơi, hồ câu cá, khu phục vụ ăn uống các món ăn đặc sản từ rừng, những “Đài vọng cảnh” trên cao phục vụ du khách. Những điệu “Sênh tiền” của người Mường, kèn lá gọi người yêu của người Mông, hát mừng năm mới của người Tày cũng trở thành những sản phẩm văn hóa thu hút khách du lịch ấn tượng. Anh bảo, nơi đây nếu được đầu tư một cách tích cực, hợp lý thì rừng nguyên sinh Cốc Nghè, Thác Lụa sẽ trở thành một khu du lịch sinh thái sánh vai với những khu du lịch sinh thái nổi tiếng trong nước.

Thác Lụa bao đời nay đã trở thành niềm kiêu hãnh và khát vọng của đồng bào các dân tộc bản Hiệp, xã Hà Lang. Với muôn loài hoa thơm, quả lạ, rừng nguyên sinh Cốc Nghè có thể đầu tư trở thành khu du lịch sinh thái hấp dẫn du khách. Khi ấy, không chỉ những con dốc thẳng đứng qua rừng nguyên sinh Cốc Nghè sẽ được đầu tư xây dựng thành những con đường bậc thang đưa du khách đến với Thác Lụa, mà nơi đây còn có thể đầu tư thành các khu nhà nghỉ mi ni dưới tán rừng, khu phục vụ ăn uống các món đặc sản của rừng. Những bể bơi, hồ câu cá được tạo nên từ nước Thác Lụa... Con đường từ xã Hà Lang vào bản Hiệp sẽ tấp nập người, xe khi Thác Lụa được đầu tư.

Hai giờ chiều, đoàn chúng tôi từ Thác Lụa xuống núi Cốc Nghè trở về bản Hiệp. Cận chân núi là một thung lũng nơi ở của đồng bào các dân tộc, trong tương lai sẽ là một Làng văn hóa du lịch nằm trong khu du lịch sinh thái Thác Lụa. Tôi tin như thế!

Du lịch, GO! - Theo báo Tuyenquang, Ttvnol

Nên biết:

Có một dòng thác khác cũng có tên thác Lụa. Thác này thuộc địa phận xã Sơn Tinh (Sơn Tây). Nhìn từ xa du khách sẽ thấy nó như một tấm dải lụa trắng xóa với những tầng nước chảy quanh năm. Mỗi tầng thác lại mang một vẻ đẹp khác nhau.

< Thác Lụa Sơn Tây

Thác Lụa Sơn Tây với vẻ đẹp vừa hùng vĩ, vừa hoang sơ với tiếng nước đổ ầm ầm ngày đêm mang âm hưởng của rừng thiêng sâu thẳm. Thêm vào đó là những tán cổ thụ phủ kín cả khu rừng với một màu xanh của bạt ngàn cùng tiếng chim hót líu lo, những tầng dây leo chằng chịt làm cho cảm xúc của mỗi chúng ta như hòa quyện vào thiên nhiên hoang dã.

Dưới chân Thác Lụa, theo dòng nước chảy tạo thành con suối Xà Ruông quanh co, khúc khuỷu với những tảng đá to, nhẵn bóng, xếp chồng nối tiếp nhau làm mê hoặc người lữ khách.
ĐGD

Thứ Ba, 8 tháng 1, 2013

Du lịch miền biên giới

Chúng tôi hướng về phía Tây biên giới, băng qua đồng nước mênh mang Mường Lay tìm đến đất Điện Biên để rồi từ đây hòa mình vào nơi khởi thủy của dòng sông Mã chảy sang từ nước bạn Lào. Chặng đường hành quân của đoàn quân Tây Tiến năm xưa bỗng chốc hiện về trên suốt quãng đường 100km Điện Biên Đông - Sông Mã, con đường cho tới nay vẫn bụi mờ đất đỏ gập ghềnh lên xuống.

Từ thị trấn Điện Biên Đông vượt 7km đường núi dốc đá sẽ gặp con suối Lư cắt ngang đường khiến bạn phải băng qua cây cầu tre đan được đồng bào nơi đây bắc qua mới có thể tiếp tục cuộc hành trình. Từ đây để tới được Mường Luân mất khoảng 4 giờ mới đi hết 23km đầy gian khổ với nhiều vũng lầy.
Xem thêm »

Thứ Ba, 1 tháng 1, 2013

Dấu xưa bên bờ Cổ Chiên

Sông Cổ Chiên là một nhánh lớn của con sông Tiền chảy ngang qua tỉnh Vĩnh Long. Thành phố Vĩnh Long thời Nguyễn là nơi ghi nhiều dấu ấn lịch sử mở cõi về đất phương Nam. Nơi đây còn lưu lại nhiều di tích như thành Long Hồ (xây dựng năm 1813), Văn thánh miếu, Thất phủ miếu, chùa Giác Thiên…

Theo các tư liệu lịch sử, địa phận tỉnh Vĩnh Long nguyên là đất Tầm Đôn - Xoài Rạp (đất Tầm Đôn còn gọi là xứ Tầm Đôn), vị trí trung tâm của Tầm Đôn xưa thuộc khu vực thành phố Vĩnh Long ngày nay. Năm 1732, Ninh Vương Nguyễn Phúc Chú (1696-1738) đã lập ở phía nam dinh phiên trấn đơn vị hành chính mới là dinh Long Hồ, châu Định Viễn, tức tỉnh Vĩnh Long ngày nay.

< Dinh Long Hồ, dấu tích của thành Long Hồ, nay thuộc thành phố Vĩnh Long.

Nhờ đất đai màu mỡ, giao thông thuận lợi, dân cư đông đúc, việc buôn bán thông thương phát đạt, địa thế trung tâm, dinh Long Hồ trở thành một trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội quan trọng thời bấy giờ. Để bảo đảm an ninh quốc gia, chúa Nguyễn đã thiết lập ở đây nhiều đồn binh như Vũng Liêm, Trà Ôn...

Đến giữa thế kỷ 18, dinh Long Hồ là thủ phủ của vùng đất phía nam và là đại bản doanh của quân đội nhà Nguyễn có nhiệm vụ phòng thủ, chống ngoại xâm. Nơi đây cũng từng diễn ra nhiều cuộc giao chiến ác liệt giữa quân Tây Sơn và quân Nguyễn Ánh. Năm 1784, tại sông Mang Thít (Vĩnh Long) nghĩa quân Tây Sơn do Nguyễn Huệ chỉ huy đã đánh bại liên quân Xiêm La can thiệp do Nguyễn Ánh cầu viện.

< Di tích cửa hữu thành Long Hồ được dựng lại.

Ngoài những điểm vui chơi, giải trí sôi động phù hợp với giới trẻ, nhiều du khách đến Vĩnh Long có sở thích thăm lại những dấu ấn văn hóa, lịch sử từ thời mở cõi. Nơi đầu tiên nên tìm đến là di tích “cửa hữu thành Long Hồ”. Đây là công trình kiến trúc vừa mới phục dựng lại trên nền cũ của thành Long Hồ xưa, hiện thuộc phường 1, thành phố Vĩnh Long. Nơi đây có một cây đa rất to lớn, sum suê là dấu vết cuối cùng còn lại của thành Long Hồ xưa.

Theo sách Gia Định Thành Thông Chí, thành Long Hồ là một trung tâm hành chính, quân sự quan trọng của chúa Nguyễn - triều Nguyễn ở phương Nam. Năm Quí Dậu, tháng 2, đời Gia Long thứ 12 (1813) triều đình Huế lệnh cho quan Khâm mạng trấn thủ Lưu Phước Tường của trấn Vĩnh Thanh xây dựng thành.

Thành đắp bằng đất, cửa chính hướng Đông - Nam. Chu vi thành rộng 750 trượng (một trượng bằng 3 thước), cao 1 trượng dày 2,5 trượng. Thành có 5 cửa quay về 5 hướng Đông - Tây - Bắc - Đông Nam và Tây Nam. Cửa tiền của thành ở hướng đông.

Bên ngoài mỗi cửa thành đều có một đoạn thành cong án ngữ bao vòng cửa. Bốn góc thành tạo thành hình hoa mai. Quanh thành có hào rộng, sông sâu. Trong thành có hai con đường dọc, 3 đường ngang, 3 công thự, kho lương, nhà thừa ty, trại lính và hành cung. Phía đông thành có quan lộ chạy dọc sông Long Hồ, phía tả là nhà Sứ Quán, phía hữu là chợ Vĩnh Thanh. Riêng góc nam của thành, chỗ tiếp giáp với sông Long Hồ, có xưởng Thủy sư (xưởng đóng tàu).

< Văn Xương các, VĩnhLong.

Trải qua thời gian và những biến động lịch sử, thành xưa chỉ còn trong tư liệu, sử sách. Di tích ngày nay gồm có cổng thành mô phỏng theo sách, tư liệu cũ, giả cổ khá đẹp, cửa vòm hình vòng cung, mái lợp ngói miểng xanh. Qua cổng thành bước lên 18 bậc tam cấp sẽ đến nhà bia. Nhà bia có bố cục đơn sơ nhưng trang trọng với lư đỉnh đặt trước văn bia. Văn bia ghi, kể tóm tắt, sơ lược nguồn gốc, xuất xứ của trấn Vĩnh Thanh và thành Long Hồ. Các hoa văn, phù điêu trang trí trong nhà bia đơn giản hài hòa với nét chân phương, thanh nhã. Chung quanh di tích là một khuôn viên thoáng mát có nhiều cây cảnh, hoa kiểng với “cây đa cửa hữu” tỏa che rợp mát một vùng đất rộng…

Viếng thăm di tích “cửa hữu thành Long Hồ”, ta dễ có cảm xúc hoài cổ khi mường tượng nơi đây, xưa kia, hơn một thế kỷ trước là thành quách oai nghiêm, trú sở hiểm yếu của quân binh thành Long Hồ, sau là thành Vĩnh Long, bây giờ chỉ còn lơ thơ dấu vết.

< Cầu Lộ, Vĩnh Long.

Đến thăm Văn Thánh Miếu ở khóm 3, phường 4, thành phố Vĩnh Long, ta sẽ nhìn thấy lại những dấu xưa trên những di tích còn đậm dấu ấn văn hoá cách đây non 150 năm. Văn Thánh Miếu được xây dựng năm 1864, thờ đức Khổng tử và các học trò của ông như Tăng Tử, Mạnh Tử, Nhan Tử… Văn Thánh miếu toạ lạc trên mảnh đất rộng trên một hecta ngó ra sông Long Hồ. Kiến trúc của Văn Thánh Miếu sau nhiều lần trùng tu, sửa chữa mang dáng dấp vừa cổ xưa vừa hiện đại, nhưng vẫn nổi bật được sắc thái văn hoá phương đông qua cấu trúc, bố cục cũng như những đường nét nghệ thuật kiến trúc tài hoa.

Cổng tam quan xây theo lối cổ lâu có ba tầng mái. Sau cổng là thần đạo đi thẳng vào điện Đại Thành. Hai bên là hai hàng sao cao vút, giữa thần đạo là ba tấm bia đá ghi lại những sự việc có liên quan đến Văn Thánh miếu. Cuối đường thần đạo là diện Đại Thành. Bên trong, nơi chính điện thờ Khổng Tử, hai bên tả ban, hữu ban thờ các thánh nho. Bên ngoài điện Đại Thành có hai miếu nhỏ (tả vu, hữu vu) thờ Thất thập nhị hiền.

< Chùa Giác Thiên.

Trong khuôn viên Văn Thánh Miếu còn có ao sen và một công trình kiến trúc nhỏ nằm bên phải lối vào; đó là Văn Xương các (còn gọi là Tụy Văn lâu). Hai bên phải và trái trước Văn Xương các có hai khẩu súng thần công đại bác, tương truyền là súng đã dùng để bảo vệ thành Vĩnh Long từ năm 1860. Văn Xương các là nơi thờ các ngài Văn Xương và Võ Trường Toản, đồng thời làm nơi dạy học, đọc sách, hội họp; còn là nơi các văn nhân, thi sĩ thường đến ngâm thơ, vịnh cảnh và đàm luận văn chương. Hàng năm ngày Thơ Việt Nam thường tổ chức nơi đây.

Viếng chùa Giác Thiên bạn sẽ rất thú vị khi khám phá tại ngôi chùa nầy có bia của 34 vị cao tăng từ Ấn Độ, Trung Hoa, Việt Nam. Ngôi chùa cổ này được xây dựng từ năm 1907, hiện tọa lạc tại số 70 đường Trần Phú thành phố Vĩnh Long. Trải qua nhiều lần trùng tu, hiện nay chùa có thêm cổ lầu, cổng tam quan giả cổ, đài Bát Nhã Tâm Kinh với phong cách kiến trúc vẫn giữ được bản sắc văn hóa vốn có. Những khi lễ hội, trai kỳ, có rất đông bà con Phật tử và khách các nơi đến tham quan, cúng bái, vãn cảnh.

< Cầu Lầu.

Vĩnh Long có hai công trình nhỏ nhưng đã có hàng trăm năm tuổi và đáng chú ý về ý nghĩa di tích của một thời phát triển giao thông địa phương. Thứ nhất là cầu Lầu (ở phường 1 thành phố Vĩnh Long) bắc qua con rạch Cầu Lầu, vốn cũng là một đoạn hào bảo về thành Long Hồ xưa kia. Hồi đó, cầu Lầu là một cầu gỗ căm xe, lát ván, giữa có vọng gác dựng trên 4 cây cột cao, rộng độ 6-7 mét, lợp ngói âm dương, bốn bên đều có lỗ châu mai. Lầu gác nầy có nhiệm vụ quan sát, theo dõi người và các phương tiện qua cầu vào khu vực thành Long Hồ. Tên cầu Lầu có từ đó. Ngày nay, gác lầu không còn nữa, nhưng tên gọi cầu Lầu đã trở thành quen thuộc với người Vĩnh Long. Ở đầu cầu phía bên kia (chỗ có chợ Cầu Lầu hiện nay) khi xưa là xóm Lò Rèn chuyên làm đồ binh khí cho quân lính đóng trong tòa thành.

< Sông Cổ Chiên, đoạn qua TP.Vĩnh Long.

Cây cầu thứ hai cũng ở phường 1 là cầu Lộ, bắc qua rạch Ngư Câu (hay còn gọi là rạch Cái Cá) là cây cầu có từ đời Pháp thuộc. Cầu có kiến trúc đơn giản. Đặc biệt dọc theo hai bên lan can cầu vẫn còn hai hàng cột đèn đúc bằng xi măng hình khối lăng trụ trông rất đẹp mắt. Ở cầu Lầu, quan quân có nhiệm vụ canh phòng mặt sông Long Hồ; còn ở Cầu Lộ, quan quân có nhiệm vụ canh phòng mặt sông Cổ Chiên. Nhưng đến khi quân Pháp đến chiếm thành Vĩnh Long ít lâu, Cầu Lầu bị phá đi, và cho làm lại bằng bê tông cốt thép. Trải qua bao thăng trầm lịch sử, những ngọn đèn trên Cầu Lộ vẫn còn với thời gian như những nhân chứng qua bao cuộc đổi thay.

Du lịch, GO! - Theo Thủy Bình (Ashui), internet

Thứ Sáu, 28 tháng 12, 2012

Khám phá suối Nước Vàng

Những cơn mưa xứ Kinh Bắc thật kỳ lạ, có khi đuổi theo phía sau xe, có lúc lại chặn trước mặt. Lúc bên đông mưa, còn phía tây lại hửng nắng... Những chiếc xe máy “chiến” ì ạch nuốt từng kilômet đường đất đá lởm chởm trên tỉnh lộ 293.

< Núi non ở Tây Yên Tử.

Sau 2 giờ rong ruổi trên cung đường gập ghềnh từ ngã ba Lục Nam tới xã Lục Sơn, du khách sẽ đặt chân tới khu danh thắng suối Nước Vàng (huyện Lục Nam, Bắc Giang). Hình ảnh dễ bắt gặp là những dãy núi trập trùng, ngút ngát những hàng keo, bạch đàn xanh mướt. Một con suối trong veo nằm vắt ngang giữa đường như phân định rõ ranh giới giữa khu danh thắng với thôn Đồng Vành nằm kề cận.

Từ đây, để tới được suối Nước Vàng du khách cần có chỉ dẫn của người dân địa phương, men theo con đường đất chừng vài trăm mét là có thể bắt gặp dòng suối có màu vàng sánh, không hề gợn đục. Nhìn kỹ dưới lòng suối sẽ thấy những khối đá nhám kết tinh, tảng thì trắng bong, tảng có màu vàng óng ngổn ngang.

Con suối chạy dọc theo dãy núi Phật Sơn cao 800-900 m tạo nên những khúc biến tấu thú vị: có chỗ nước tuôn chảy ào ào, chỗ thì róc rách, chỗ thì lững lờ trôi êm đềm. Đưa tay hòa vào dòng nước mát lạnh có cảm giác như vừa được “gột rửa bụi trần”.

< Suối Nước Vàng óng áng như mật ong và trong vắt.

Có nhiều giả thiết khác nhau về màu vàng của dòng suối ở đây. Các nhà khoa học cho rằng do suối chảy ra từ một mỏ than lớn của Quảng Ninh hoặc có thể do quá trình phân hủy và kết tụ của cây cối hàng ngàn năm. Còn dân bản địa cho rằng do nước đọng trên những phiến đá cát nhãn màu vàng nên mới có màu như thế.

Dân gian thì truyền miệng nhau rằng nước có màu vàng vì nguồn xuất phát từ Phật. Người dân địa phương thì dòng suối không hề bị ô nhiễm bởi từ hàng chục năm qua họ vẫn sinh hoạt hàng ngày trên dòng suối mà không bị bệnh tật.

Từ hạ nguồn suối Nước Vàng, du khách tiếp tục băng qua 7 thác nước  để tới thượng nguồn thác Giót - con thác cao nhất (50m) trong hệ thống thác nơi đây. Đường tới thác Giót chỉ dài 4 km nhưng vô cùng hiểm trở vì phải băng qua suối, đu cây rừng và cheo leo trên các vách đá dựng đứng.

Bù lại sau những gian khổ ấy, lữ khách sẽ có dịp được khám phá thế giới của rừng nguyên sinh kỳ bí với những cây nấm linh chi quý hiếm, những khóm phong lan rừng thơm ngát dọc đường, những âm vang xao động của dòng suối, thác nước và chim chóc trong rừng.

Cứ đi một quãng lại bắt gặp dòng suối nước vàng óng ánh như mật ong. Dưới lòng suối là những viên sỏi trắng, đá nhám vàng. Tiếng suối róc rách, khi réo rắt khi êm đềm tạo nên những âm điệu trầm bổng của bản nhạc núi rừng.

Sau hơn ba giờ băng rừng vượt suối, cuối cùng thác Giót hùng vĩ cũng hiện ra trước mắt. Dòng thác cao ngất như dải lụa phấp phới bay trong gió. Hết lớp nước này đến lớp nước khác chạm vào đỉnh đá bắn ra hàng tỉ bọt nước mát lạnh bao trùm không gian.

< Thác Giót.

Ngắm lên dòng thác hùng vĩ mát lạnh còn thấy những lớp đá phủ rêu xanh mượt. Không khí trong lành, man mát sẽ tiêu tan những mệt mỏi, âu lo sau chặng đường bách bộ. Khách ngồi trước bậc đá phủ rêu vàng có thể liên tưởng đến việc ngồi trong căn phòng có máy lạnh, không gì tuyệt bằng.

Vậy nhưng nếu lên đến thác Giót rồi mà không đến đồng cỏ xanh thì kể như chưa đến đây! Vậy là lại balô, máy ảnh trên vai, khách tiếp tục hành trình. Con đường rừng 2,5km băng qua những bụi rậm, những rừng tre xanh mướt, mỏm đá phủ đầy rêu phong. Gần hai giờ loanh quanh trong rừng, đã có lúc bị lạc đường nhưng rồi mọi sự tốt đẹp.

Cảm giác choáng ngợp khi trước mắt là một đồng cỏ rộng thênh thang điểm xuyết những cánh hoa tím ngát và những hòn đá tảng hình thù kỳ lạ như con rùa, quả trứng, hình người ôm ấp. Đây chính là đỉnh núi Phật Sơn cao gần 1.000m so với mực nước biển. Những bãi cỏ xanh mướt lung linh trong nắng, gió mùa thu tuyệt diệu. Dân địa phương gọi đây là Sân Trời hay Lái Cỏ. Cảnh sắc nơi đây làm cho bất kỳ ai một lần đến cũng phải xao xuyến.

Đặc biệt trên những tảng đá nằm bẹp dưới đất, từ các khe tiết ra thứ nước trong vắt, nhìn từ xa có ảo giác như một dòng suối đang tuôn chảy giữa thảo nguyên, cảnh vật cứ nửa hư nửa thực...

Gợi ý:

Từ Hà Nội, khách có thể về TP Bắc Giang theo quốc lộ 1A rồi rẽ vào quốc lộ 31 đến thị trấn Đồi Ngô - Lục Nam gần 100km. Từ thị trấn Đồi Ngô qua cầu Lục Nam, đi thác Thùm Thùm rồi men theo con đường 293 gần 40km sẽ đến suối nước vàng chinh phục đỉnh Phật Sơn. Đây là cung đường ngắn nhất. Xe cần được bảo dưỡng trước hành trình và mang theo dụng cụ sửa chữa cần thiết.

Để khám phá và chinh phục con suối từ phía hạ nguồn lên miền thượng mất quá nửa ngày, sau khi băng qua gần 20 thác ghềnh lớn nhỏ, một số thác đẹp như thác Anh Vũ, thác Mây, Thác Giót, Thác Nước Vàng...

Thác nào cũng đẹp, cũng hấp dẫn và lạ mắt, phía dưới mỗi thác đều có những bồn tắm thiên tạo có thể chứa đến vài chục người, là nơi để bạn có thể thỏa sức vùng vẫy, giải nhiệt cùng dòng nước mát lạnh từ trên cao dội lên cơ thể.

Sau khi đã chinh phục thác Giót, đỉnh Phật Sơn, mọi người nên chọn cách đi về theo con đường bêtông chạy từ trung tâm xã Lục Sơn đến thị trấn Chũ (Lục Ngạn) rồi về TP Bắc Giang theo quốc lộ 31, tránh đi lại con đường 293 nhiều bất trắc. Hoặc chạy theo con đường nhựa về thị trấn Đông Triều - Quảng Ninh, rồi ngược quốc lộ 18 qua Bắc Ninh về Hà Nội.

Du lịch, GO! - Tổng hợp từ Dulichbacgiang, TTO và nhiều nguồn ảnh khác

Thứ Tư, 26 tháng 12, 2012

Lễ hội đền Suối Mỡ.

Lễ hội đền Suối Mỡ có từ lâu đời, được tổ chức vào dịp cuối tháng 3 đầu tháng 4 âm lịch hàng năm, thu hút hàng vạn du khách đến dâng hương, trảy hội. Đền Suối Mỡ (xã Nghĩa Phương, Lục Nam, Bắc Giang) được xếp hạng di tích danh thắng cấp quốc gia từ năm 1988.

Với tiềm năng to lớn về du lịch và giá trị văn hoá tâm linh nên nơi đây đã được quy hoạch thành khu du lịch trọng điểm của tỉnh. Đền Suối Mỡ bao gồm đền Hạ, đền Trung, đền Thượng và một số đền phụ cận khác thờ công chúa Quế Mỵ Nương, con gái vua Hùng Định Vương.

Theo truyền thuyết, công chúa là người có công mở suối khai nguồn nước mát, dạy dân cày ruộng cấy lúa và được suy tôn là Thánh Mẫu Thượng ngàn. Lễ hội đền Suối Mỡ có từ lâu đời, được tổ chức vào dịp cuối tháng 3 đầu tháng 4 âm lịch hàng năm, thu hút hàng vạn du khách đến dâng hương, trảy hội.

Theo ban tổ chức, lễ hội năm nay sẽ mang đến cho du khách nhiều nét mới, độc đáo. Nổi bật là các trò chơi và trò diễn xướng dân gian được tổ chức với quy mô lớn, nhất là liên hoan hát văn- lên giá đồng. Đây là một trong những hoạt động thường diễn ra tại các cửa đền, song được thể hiện qua hình thức sân khấu hoá và là lần đầu tiên được đưa vào nội dung lễ hội.

Tiếp đến là các canh hát quan họ trên thuyền; giao lưu, biểu diễn các loại hình văn hoá nghệ thuật đặc trưng của đồng bào các dân tộc trong khu vực phía bắc, như: múa xoè Thái của các đoàn văn hoá, nghệ thuật đến từ tỉnh Điện Biên, Sơn La, múa cồng chiêng của dân tộc mường, huyện Tân Lạc (Hoà Bình); hát then của người Nùng, huyện Hữu Lũng (Lạng Sơn); hát dân ca đồng bằng Bắc Bộ do các đoàn nghệ thuật quần chúng đến từ tỉnh Quảng Ninh, Hải Dương biểu diễn.

Lồng ghép trong các hoạt động trên, vào buổi tối của 3 ngày diễn ra lễ hội (24, 25 và 26/4) Đoàn Nghệ thuật chèo - ca múa nhạc tỉnh biểu diễn các trích đoạn chèo đặc sắc phục vụ nhân dân địa phương và du khách. Hoạt động thể thao cũng diễn ra sôi nổi qua Giải vô địch đẩy gậy toàn tỉnh nằm trong chương trình Đại hội TDTT toàn tỉnh năm 2009 do UBND huyện Lục Nam phối hợp với Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch tổ chức.

Đây là giải đấu quy tụ những VĐV xuất sắc nhất của 10 huyện, thành phố trong tỉnh, tranh tài ở gần 20 hạng cân. Bên cạnh đó là các giải đấu cấp huyện như bóng chuyền, cờ tướng, chọi gà. Các trò chơi dân gian: đi cầu thùm, bịt mắt đập niêu và đu tiên - các trò chơi năm  đầu tiên được ban tổ chức đưa vào chương trình lễ hội.

Dự kiến lễ hội đền Suối Mỡ năm nay sẽ đón từ 10-15 nghìn lượt du khách đến dâng hương, trảy hội. Vì vậy, ban tổ chức lễ hội đặc biệt coi trọng công tác y tế và bảo đảm an ninh trật tự. Rút kinh nghiệm qua các lễ hội trước, năm nay huyện Lục Nam huy động lực lượng công an, quân sự huyện; trưng tập công an viên các xã Phương Sơn, Tiên Hưng, thị trấn Đồi Ngô, Lục Nam tham gia giữ gìn an ninh trật tự, bảo đảm an toàn giao thông trên tuyến quốc lộ 31, tỉnh lộ 293 và toàn bộ khu du lịch sinh thái Suối Mỡ.

Phong cảnh thiên thiên hòa quện trong những dấu xưa tích cũ, lễ hội Suối Mỡ đã thực sự hấp dẫn thu hút du khách thập phương từ nhiều vùng miền trong cả nước, họ đến với Suối Mỡ để cầu mong những điều tốt đẹp an lành trong cuộc sống, họ cũng đến để tìm hiểu những phong tục tập quán của địa phương, được chiêm ngưỡng thăm quan, trải nghiệm khám phá khu du lịch sinh thái Suối Mỡ.

Với du lịch, Suối Mỡ có vị trí đặc biệt quan trọng trong hệ thống di tích và danh thắng Tây Yên Tử. Hiện nay hệ thống di tích và danh thắng Tây Yên Tử  đã được Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Bắc Giang tiến hành lập quy hoạch nhằm từng bước đưa tuyến du lịch này  trở thành tuyến du lịch trọng tâm của tỉnh để thu hút khách du lịch đến với Bắc Giang.

Du lịch, GO! - Theo báo Du Lịch, Dulichbacgiang, ảnh internet

Thứ Ba, 25 tháng 12, 2012

Dòng sông tiên nữ mê hoặc lữ khách

Thấp thoáng trong nắng chiều, thiếu nữ Thái mềm mại chải tóc dưới dòng Púng Hon ở Mường Lèo (Sốp Cộp, Sơn La) khiến con suối trở nên huyền ảo, có lẽ thế nên người ta gọi đó là dòng sông tiên nữ.

< Các cô gái Thái đang khỏa mình trong dòng  nước.

Những ai đã đến với sông Mã, được ngắm nhìn những đường nét kiêu kỳ đó thường bảo, đây là tiên cảnh. Dòng suối Púng Hon chắt chiu nguồn mạch của mây núi để dệt cho dòng sông Mã thêm hùng vĩ, hoang sơ.

Hình ảnh cô gái Thái chải tóc bên dòng Púng Hon, thế thôi mà cứ như mê hoặc cả núi rừng lẫn lữ khách ngang qua. Dòng suối miệt mài chảy. Cô gái e ấp, chải vuốt mái tóc mềm mại như dòng suối cho đến khi bóng chiều hạ ánh sáng xuống núi.

Khói lam chiều bảng lảng đưa ta lạc vào xứ sở yên bình đến mơ màng. Cơm tối với cá bống suối Púng Hon nấu lá chua rừng. Và mâm cơm có giản dị đến mấy cũng không thể thiếu sâu chít chao lá chanh và côn trùng chiên giòn thơm nức.

< Những thiếu nữ người Thái đang tắm trên sông Đà sau buổi lên nương.

Là bản du lịch sinh thái, thế nên cộng đồng bà con người Thái đã biết tiếp cận với “nhịp đập” của “dân du mục” tìm đến khám phá. Chợt nhớ ra, trên dọc hành trình đến Mường Lèo ban chiều, qua những con suối bên khe núi thường bắt gặp những cô gái Thái tắm mình trong dòng sông để chải tóc, đó là cách làm đẹp hay chỉ để khỏa những nhọc nhằn sau một ngày dài lao động?

< Nụ cười tỏa nắng bên dòng nước mát lạnh. "Tắc nặm" (vác nước), "pây áp nậm" (đi tắm suối) trên những dòng sông, suối là việc thường ngày của người Thái..

Người chủ nhà không trả lời mà lại kể, xưa người Thái đen ở Mường Lèo đi săn thấy một con tê giác có 3 sừng, phường săn đuổi mãi, qua những ngọn núi quanh năm mây phủ, qua những tán rừng nguyên sinh thì thấy một vùng đất bằng phẳng.

< Tắm tiên trên dòng sông Đà.

Ở giữa vùng đất đó ở có một con suối nước trong xanh mà chiều chiều hươu, nai kéo từng đàn xuống uống nước. Biết là vùng đất tốt, tộc người ăn theo nước mới di dân đến khai khẩn dựng mường. Thời ấy, con người và muông thú cùng chung sống hòa thuận dưới cánh rừng đại ngàn năm này qua năm khác…

Có rất nhiều truyền thuyết khiến ta đặt câu hỏi mãi không thôi, như loài tê giác 3 sừng kia có nguồn gốc từ đâu… Song, những gì ta được tận “mục sở thị” gom lại trong mắt, trong trí nhớ, đã có thể cho ta câu trả lời, đó là sự yên bình và hoang sơ.

Lễ hội gội đầu dân tộc Thái trên sông Đà

Lễ hội gội đầu của đồng báo Thái. Đây là hoạt động nằm trong tuần văn hóa “Qua miền Tây Bắc”, đồng thời đáp ứng nguyện vọng của đồng bào vùng di dân tái định cư thủy điện Sơn La.

Khi ánh nắng bừng sáng mặt sông Đà, lễ gội đầu được bắt đầu. Người chủ sự thông báo với dân bản: “Năm mới sắp đến, bà con dân bản hãy xuống bến nước chuẩn bị gội đầu”. Theo đó, nam thanh nữ tú trong bản khua trống, chiêng, kéo theo dòng người ra sông gội đầu.

Trong chậu nước gội đầu của mỗi người, được đun bằng bồ kết cùng vỏ cây xo xe và những cánh hoa rừng gồm hoa đào, hoa mận tạo ra một thứ nước thơm quyến rũ...

Đàn ông khoác súng kíp, đeo túi thổ cẩm trong có đựng bảo bối gọi là “thung xanh”. “Bảo bối” thực ra chỉ là móng vuốt hổ, vuốt gấu, đoạn sừng tê giác, châu ngọc hoặc có thể chỉ là của hồi môn, như: nhẫn vàng, vòng bạc...

Trong Lễ hội gội đầu còn có các nghi thức khác như múa xoè, làm nghi lễ cúng thần sông, thần suối, kèm theo là các trò chơi dân gian. Từ già trẻ, gái trai, mọi thành viên trong bản đều được tham gia lễ hội gội đầu.

Theo quan niệm của người Thái trắng, lễ gội đầu là để rửa trôi, tống tiễn bệnh tật, điều không may mắn của năm cũ theo dòng nước (sông, suối), đi mãi không lặp lại; đồng thời cầu cho khi bước vào năm mới có nhiều sức khoẻ, làm ăn mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu...

Du lịch, GO! - Theo An Ninh Đời Sống, ảnh từ nhiều nguồn khác.

Thứ Bảy, 22 tháng 12, 2012

Thác Đổ thơ mộng

Thác Đổ nằm cách thị trấn Phú Phong khoảng 10km về hướng Tây Nam, thuộc xã Bình Tường, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định. 
Tây Sơn là một huyện ở phía Tây tỉnh Bình Định với huyện lỵ là thị trấn Phú Phong. Huyện có diện tích tự nhiên là 708 km², dân số 136.000 người.

< Thác khi đổ nước xuống có hình dáng chữ Y.

Các địa điểm du lịch nằm trong huyện Tây Sơn có khá nhiều, ví dụ như Khu du lịch Hầm Hô, Tháp Dương Long (tháp Chăm), hồ Thuận Ninh, Bảo tàng Quang Trung ( Thị trấn Phú Phong), Từ đường Bùi Thị Xuân...

< Dòng suối được tạo ra từ nước của Thác Đổ.

Trong đó có một địa điểm độc đáo nhưng chưa được khai thác là Thác Đổ. Đây là địa điểm du lịch còn khá hoang sơ, đang là điểm đến của nhiều bạn trẻ trong những ngày nghỉ, dịp lễ.

< Một trong những cây cổ thụ bên suối.

Đến đây bạn sẽ không khỏi ngạc nhiên với vẻ đẹp hùng vỹ giữa thiên nhiên nhưng không kém phần thơ mộng. Thác Đổ ẩn mình giữa rừng già, dòng nước trắng xóa như treo trên vách đá ở độ cao trên 30m.

< Suối chảy qua những bậc đá gập ghềnh.


< Với nước trong leo lẻo và mát lạnh.

< Thác Đổ đã xuất hiện ở phía xa xa...

Từ trên cao, nước buông mình đổ xuống tạo nên bọt trắng xóa hòa vào mặt hồ tĩnh lặng giữa những tảng đá và bờ cây mọc đầy trên vách núi.

< Sự hùng vĩ của dòng thác khi tuôn xuống. Dưới chân thác Đổ lúc nào bọt cũng tung trắng xóa...

Dòng suối chảy qua những hốc đá, những hàng cây bên bờ, phong cảnh rất hoang sơ, mặt nước có những lúc thật yên tĩnh, có những lúc chảy dữ dội qua khe đá.

< Tiếng nước đổ ì ầm vang vọng cả một góc rừng.

< Phía trên còn có thêm những tầng thác nhỏ khác nữa...

< Trẻ chăn bò ở hạ nguồn.

< Rời thác Đổ trong ánh chiều tà buổi hoàng hôn.

Du lịch, GO! - Tổng hợp từ Tuoitre Quynhon, báo Binhdinh và nhiều nguồn khác.